Hiển thị các bài đăng có nhãn giaohoi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giaohoi. Hiển thị tất cả bài đăng

Dấu chân người mục tử - Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

ĐỨC CHA PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN SANG - Nguyên Giám mục Giáo phận Thái Bình
ĐỨC CHA PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN SANG
Nguyên Giám mục Giáo phận Thái Bình
Khẩu hiệu Giám mục : Chân lý trong tình yêu
Bút danh : Bạch Lạp
Sinh ngày 08 tháng 01 năm 1931, 
tại Giáo xứ Lại Yên thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội, 
xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Hồi 19g00, thứ Năm, ngày 05/10/2017 : Ngài đã hoàn tất cuộc lữ hành đức tin nơi trần thế - về Nhà Cha, tại Toà Giám mục Thái Bình, hưởng thọ 86 tuổi, với 59 năm linh mục và 36 năm Giám mục.
BTT GPTB

Tuần Chầu Thánh Thể - Truyền hình trực tiếp




THÔNG BÁO TRUYỀN HÌNH TRỰC TUYẾN THÁNH LỄ KHAI MẠC CHIỀU THỨ BẢY VÀ THÁNH LỄ CHÍNH TIỆC NGÀY CHÚA NHẬT TUẦN CHẦU GIÁO XỨ THANH CHÂU_2017


Cộng đoàn thân mến,
Sắp tới ngày 19-20/08/2017 là ngày Giáo xứ Thanh Minh Chầu thay mặt Giáo Phận. Anh chị em xa quê có nhu cầu mong muốn được theo dõi các sự kiện từ xa để được cùng hiệp thông với giáo xứ trong Tuần Chầu này. Cách này hay cách khác để vơi bớt nỗi nhớ quê hương và tăng thêm sự long trọng của Đại Lễ.
Vậy trên tinh thần liên đới, đức tin và phục vụ công việc nhà Chúa, Ban Truyền Thông Giáo xứ Thanh Minh xin thông báo chương trình TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP như sau:

I. Lịch trình:
- 16h00 ngày 19/08/2017: Thánh lễ khai mạc Tuần Chầu, sau đó là chầu Thánh Thể buổi tối.
- 08h00 ngày 20/08/2017: Rước đoàn đồng tế và Thánh lễ Chính Tiệc.

II. Phương tiện:

Với sự phát triển về công nghệ và thuận tiện cho quí vị theo dõi, BTT chúng tôi sẽ truyền hình trên các kênh như sau:
1. Website: www.giaoxuthanhminh.org
2. Fanpage: Giáo Xứ Thanh Minh - Cổng thông tin và truyền thông GXTM
3. Youtube: Giáo Xứ Thanh Minh

Vậy BTT xin thông báo để quí vị xa quê, không thể về tham dự Tuần Chầu có thể hiệp thông từ xa!
(Quí vị có thể Like Page hoặc đăng ký Kênh Youtube để nhận được thông báo khi có Truyền hình trực tiếp.)

Phối hợp Truyền Thông:
- BTT Giáo xứ Thanh Minh
- BTT Giáo xứ Trung Thành
- BTT Giới Trẻ Giáo Phận Thái Bình


Lược Truyện Thánh Vinh Sơn

Vincent Ferrer
 (1350 – 1419)

Lời Tiên Tri


Thánh Vincent Ferrer (Vinh Sơn / Vicentê) sinh tại Valencia, nước Tây-ban-nha (Spain) vào ngày 23 Tháng giêng Năm 1350, là con thứ ba của ông William Fêrrêr và bà Cônstânce Mìguêl là con gái của chính khách naval, có họ hàng với Giám Mục của Valencia lúc bấy giờ, một gia đình Công giáo đạo đức truyền thống. Vào một đêm kia, ông William nằm mơ thấy mình đi vào nhà thờ thánh Đaminh tại Valencia, bỗng có một vị thuộc phần tử Dòng Thuyết Giáo từ trên bục giảng phía trên cung thánh, xoay nhìn ông nói rằng, “Cha chào mừng con, William.  Trong mấy ngày nữa con sẽ có một cháu  trai, trẻ này sau sẽ được phúc học hành uyên thông và thánh thiện.  Cháu sẽ thành đại sự làm rạng danh nhà con.  Thế gian sẽ vang vọng âm thanh huy hoàng của cháu; cháu sẽ được ngập tràn phúc sủng thiên đàng còn địa ngục phải khiếp run.  Cháu sẽ mang tu phục như cha đang mặc đây, và sẽ được tiếp nhận vào Hội Thánh với niềm vui của toàn thể vũ hoàn như đối với một vị tông đồ tiên khởi.” 

Những người nghe biết chuyện đều hết thảy lớn tiếng chúc tụng – cám đội ơn Chúa với tin mừng bất ngờ này.  Riêng ông William vui khôn xiết tả, liền đi thuật lại đầu đuôi câu chuyện với vị giám mục họ hàng.   Bà Cônstânce kể thêm, lúc có thai Vincent thì có hai điềm lạ xảy ra; bà không hề đau đớn khi mang thai Vincent so với những lần mang thai bình thường khác; và gần đến ngày sinh trẻ Vincent, thì bà nghe trong bào thai phát ra tiếng khóc như tiếng sủa của một con chó con - gần giống như giấc mơ của chân phước Jane de Aza Mẹ thánh Đaminh vậy (Bà Aza mơ thấy mình sanh ra một con chó ngậm bó đuốc chạy đi thiêu đốt khắp các thành thị).  Vị giám mục ngầm hiểu rõ ngay đây là một dấu chỉ màu nhiệm và nói với họ rằng, “Anh chị hãy vui mừng Trong Thiên Chúa; đứa trẻ mà anh chị đang mang vào thế gian đây, sẽ trở nên người con xứng đáng của thánh Đaminh, cháu sẽ là một trong số những người được kêu gọi để làm nhiều điều thiện lành vô kể bằng vào sự giảng truyền của cháu.  Hãy chăm sóc cháu cách đặc biệt cẩn thận và giáo dục cháu nên người thánh thiện, để mai ngày cháu không phụ tình Thiên Chúa đối với các tặng sủng mà Ngài đã ban cho cháu.”

Vincent được Thiên Chúa phú bẩm cho ơn làm phép lạ ngay từ khi chưa lọt lòng mẹ.  Một buổi nọ, bà Cônstânce đi thăm một phụ nữ mù theo thói quen đi làm việc bác ái - bố thí hàng tháng, và bà nói với chị ấy, “Con ơi, hãy cầu xin Chúa cho thai nhi mà mẹ đang cưu mang đến ngày sinh được bằng an nhé.”  Người phụ nữ mù liền cúi áp đầu vào bụng bà Cônstânce rồi nói với thai nhi, “Xin Thiên Chúa chúc ban phúc lành cho em.”  Lập tức, chị được khỏi mù, và lòng trí trở nên minh mẫn sáng láng, liền thốt lời tiên tri rằng, “Thưa bà, quả là một thiên thần bà đang cưu mang, bởi chính em đã chữa lành nỗi khổ đau cho con.”  Giống như một thai nhi Gioan Tẩy-giả khác, thai nhi Vincent tỏ ý bằng lòng với lời cầu chúc từ miệng người phụ nữ nghèo, đến nỗi nhảy mừng trong lòng mẹ bằng dấu lạ chữa chị khỏi mù.

Ấu Thơ

Khi trẻ Vincent chào đời, được ba mẹ ẵm lên nhà thờ để chịu Phép Rửa Tội, thì những người bà con họ hàng ai cũng muốn lấy tên mình mà đặt cho, khiến vị linh mục chủ sự phải can thiệp mà đặt tên là Vincent, có nghĩa là kẻ thắng trận, một cái tên chưa hề có trong dòng họ bao giờ. Trẻ Vincent rất dễ tính, đặt đâu nằm đó, không có quấy khóc như mọi trẻ khác, với miệng cười tươi, cặp mắt tròn to mở lớn, khiến ai nấy cũng đem lòng thương mến.

Lên năm tuổi, Vincent, đă chữa lành một đứa trẻ hàng xóm đau nặng được khỏi bệnh.  Trong đám trẻ nhỏ hàng xóm, bạn Vincent có một đứa lười học lắm, một hôm, cậu tới rủ nó đi học thì nó đã chết.  Mẹ nó đang vật vã khóc lóc cách thảm thiết.  Thấy thế, Vincent nói, “Con bác không chết đâu, nó lười học nên mê ngủ đó.”  Nói đặng, Vincent cầm lấy tay bạn bảo: “Dậy đi học với tôi mau, kẻo trễ rồi.”  Đứa trẻ đã chết liền bật mình sống dậy đi học với Vincent.  Một lần khác, khi cậu đang chơi bên cạnh giếng nhà mình thì đánh rơi giầy, cậu liền quỳ xuống bờ giếng mà cầu nguyện, thì liền đó nước giếng dâng lên vừa đúng tầm tay đặng cậu có thể lấy lại giầy. Không những thế, Vincent còn thường xuyên hội tụ các bạn nhỏ lại, rồi tự mình đi tìm các chỗ cao đứng giảng cho chúng nghe những gì cậu đã được nghe cha xứ giảng vào ngày Chúa Nhật vừa qua ở nhà thờ. Có một hôm, thấy người đầy tớ đang định chặt một trong các cây ở trong vườn, Vincent liền tới cản lại bảo, “xin khoan đã, đừng chặt cây đó!  Vì mai mốt người ta sẽ dùng cây này mà khắc tượng cháu đó.”  Cậu còn làm nhiều điều lạ khác nữa.

Vincent bắt đầu đi học vào năm tám tuổi.  Cậu thuộc làu các kinh, học hành xuất sắc, năm 12 tuổi cậu đã sớm biết ăn chay vào các ngày thứ tư vào thứ sáu trong tuần chỉ bằng bánh mì và nước lã. Mười bốn tuổi Vincent học thần học, cậu năng nguyện gẫm, nhất là rất sùng kính cuộc khổ hình – thương khó của Chúa Giêsu và có lòng biệt kính Mẹ Maria cách riêng, và sống bác ái với mọi người.  Nên xóm giềng ai cũng đem lòng thương mến cậu và thường gọi là “Vị thánh tý hon.” 

Thiếu Niên Dũng Trí

Mười tám tuổi, Vincent xin vào “Dòng Thuyết Giáo Thánh Đaminh - Dominican Order of Preacher (O.P)” nơi thành phố cậu đang cư ngụ. Từ khi chọn sống đời tu, thầy Vincent quyết chí noi gương thánh Đaminh để tiến tới đường trọn lành.  Thầy siêng năng đọc Thánh Kinh - suy gẫm Lời Chúa tựa như cơ thể sống động không thể thiếu các mạch máu chính và li-ti vậy. Thầy sống khổ chế và thánh thiện trong mọi lời nói cũng như hành động.  Vì đó, quỷ dữ căm ghét và thường xuyên quấy phá – cám dỗ và gây đau khổ cho thầy đủ điều. Đến độ cha mẹ của thầy khuyên nên bỏ nhà dòng trở về làm một cha xứ (linh mục triều) bình thường thôi.  Nhưng thầy Vincent vẫn vững một lòng trông cậy Chúa, ra sức cầu nguyện nhiều hơn, đặc biệt là thầy van nài - khẩn nguyện với Mẹ Maria và thiên thần bổn mạng cứu giúp.  Sau bao nhiêu khốn khó, thầy Vincent đã vượt thắng tất cả mọi cam go và hoàn tất giai đoạn tập sinh.

Thầy Vincent lãnh mặc tu phục dòng Đaminh ngày 2 tháng 2 Năm 1363, và khấn trọn đời năm 1368.  Kế đến, thầy Vincent tiếp tục 18 năm theo học các; khoa Thánh Kinh, học tiếng Dothái và học rất nhanh.  Trong ba năm đầu, thầy Vincent chỉ đọc Sách Thánh Kinh và sách của các Thánh Giáo-phụ đến độ thuộc lòng, đồng thời thông hiểu hết toàn bộ Sách Thánh.  Sau đó không lâu, thầy được chỉ định học Triết học, mãn khóa học, Vincent cho ra trình làng cuốn “khảo luận về giả thuyết biện chứng pháp...” (Treatise Dialectic Suppositions), lúc ấy thầy chưa tròn hai mươi bốn tuổi. Sau đó, Vincent được gửi đến Bárcêlôna tiếp tục học chuyên khoa Thánh Kinh.  Tuy bận rộn với việc học hành, nhưng cùng thời gian đó, thầy không ngừng rao giảng Lời Chúa và đã mang lại nhiều kết quả lạ thường tuyệt vời không ngờ. Thầy giống hệt như thánh Đaminh vừa là học trò, đồng thời vừa là giáo sư, và vừa là nhà thuyết pháp tài ba vậy.  

Vào năm 1378, ở tuổi hai mươi tám, chính tay Đức HồngY Peter De Luna trao bằng tiến sĩ thần học cho thầy Vincent (Hồng Y Phêrô De Luna - người sau này trở thành Giáo hoàng Bênêđíctô thứ XIII, nhưng không chính thức giữa thời kỳ Giáo hội có cuộc “Đại Ly Giáo” bị hủng hoảng và phân rẽ vì chiến tranh lan rộng khắp Tây Âu, mới đầu chỉ có hai rồi có tới ba Đức Giáo hoàng: Đức Urban VI ngự điện tại Rôma, Đức Clêmentê VII ngự điện tại Avignon, Pháp Quốc. Thánh Catherine thành Siena ủng hộ Đức Urban VI ở Rôma, còn thánh Vincent thì cho ngài là bất hợp pháp …trong lúc phục vụ Hồng Y Peter De Luna, Vincent cùng lúc tích cực thuyết phục dân Tây Ban Nha theo Đức Clêmentê, sau khi Đức Clementê băng hà, thì Hồng Y Luna được bầu làm Giáo Hoàng tại Avignon, lấy hiệu là Đức Bênêđíctô thứ XIII ),  Hồng Y Peter lúc ấy đại diện cho Đức Giáo hoàng Clêment VII, đang ngự điện tại Avignon, bên Pháp, đồng thời cũng là người thụ phong linh mục cho Vicent tại Bárcêlôna năm 1379.  Không bao lâu sau khi chịu chức linh mục, cha Vincent liền được chọn làm bề trên tu viện Thánh Đaminh tại Valencia.
Đức Bênêđíctô XIII triệu Cha Vincent về làm việc trong bộ xá giải tông truyền và như là một Trưởng Điện Tông Tòa. Nhưng tân giáo hoàng không chịu từ chức trong khi tất cả các ứng viên hồng y trong mật nghị viện đều nhất loạt truất phế.  Thế nhưng dẫu cho hầu hết các hồng y và vua nướp Pháp phế bỏ, ngài vẫn ngoan cố bất chấp không chịu từ chức. Nên cha Vincent vỡ mộng trở bệnh nặng, nhưng sau cùng ngài đảm nhận việc “rao giảng Chúa Kitô cho thế giới.”
Vào những năm 1408 đến 1415, cha Vincent cố gắng thuyết phục người bạn cũ (Beneđíctô 13) từ chức nhưng bất thành. Sau cùng ngài kết luận rằng Bênêđíctô không phải là đức giáo hoàng thật. Mặc dầu đang lâm bệnh nặng, ngài cũng ráng hết sức lên tòa giảng ngay trước mặt giáo đoàn mà Bênêđíctô đang chủ sự mạnh mẽ tố giác người đã tấn phong linh mục cho ngài. Bênêđíctô vội vã bỏ trốn khỏi những người trước đây đã từng hỗ trợ mình.  Có điều kỳ lạ, là cha Vincent không phải thuộc phần tử của Công Đồng Constance (Công Đồng Constance năm 1414 đến năm 1418 do Hoàng đế Segismunđô triệu tập: nhằm bãi nhiệm 3 Đức Giáo Hoàng đang tranh chấp nhau, chấm dứt tình trạng ly giáo ở Tây Phương, lên án Wiclef và Huss. Công Đồng bầu chọn Tân Giáo Hoàng Martinô V), thế mà đã góp phần chấm dứt cuộc ly giáo, bất kể thời ấy trải qua cuộc canh tân nào trong Giáo Hội đều tùy thuộc vào sự hàn gắn ly giáo. Cha Vincent sống cho tới ngày chứng kiến bầu chọn Đức tân giáo hoàng Martin V.

Đời Linh Mục
Vincent là một nhà thuyết giảng hăng say và tài ba, suốt 20 năm cuối đời, ngài giảng truyền Tin Mừng Phúc Âm khắp cõi Miền Nam Âu Châu; Tây ban nha, Pháp, Ý, Đức, Belgium, Úc, Thụy điển, Lombardy và các vùng phụ cận. Giống như một Gioan Tẩy Giả khác được mệnh danh là một thiên sứ thần thông lướt băng qua hoang địa tội lỗi, kêu gọi người ta ăn năn sám hối, run sợ ngày công phán, dọn đường ngay thẳng để đón Chúa, nếu không có lý do nào khác, hầu hết các tội nhân mới đầu lắng nghe các bài giảng của ngài đều thống hối từ bỏ tội lỗi và yêu mến Thiên Chúa.  Ngài còn xác nhận rằng ngài chính là “Thẩm Phán Thiên Thần – Angel of the Judgment,” được nhắc tới trong Sách Khải Huyền của Thánh Gioan Tông Đồ (Kh 14:6-7), nếu dân chúng không chịu ăn năn cải thiện đời sống thì cuộc chung thẩm sắp xảy ra tới nơi.
Việc thuyết giảng của ngài thực lạ lùng nhưng sinh hiệu quả kỳ diệu đến độ mỗi lần thánh Vincent lui tới đâu thuyết giảng, lập tức thu hút khá đông dân chúng hàng vạn, hàng ngàn, và ít nhất có tới 10,000 người, 50 linh mục lũ lượt di hành theo từ nơi này qua nơi khác, thậm chí ngay cả những người ở cách xa đó cả ngàn dặm hay tin cũng tấp nập rủ nhau tới nghe ngài giảng, đến nỗi các nhà thờ chưa kịp mở cửa đã có sẵn đám đông dân chúng túc trực chật ních ở ngoài từ bao giờ, dẫu nhà thờ có rộng lớn bao nhiêu mấy cũng không đủ chỗ chứa họ. Cộng đoàn linh mục hát Kinh Thần Vụ, hát Lễ hằng ngày, và cử hành các bí tích cho những người đã hoán cải nhờ nghe cha Vincent thuyết giảng. 
Từng đoàn người nam - nữ khác biệt từ khắp nơi vừa di hành chân không vừa đánh tội cầu nguyện râm ran từ hết đường phố này sang tới thành phố khác. Họ dạy giáo lý khi cần thiết, thành lập các nhà thương - bệnh xá, và làm sống lại một đức tin vốn có trước kia nhưng đã bị tắt rụi vào thời kỳ mắc nạn dịch bệnh. Tương tự như Tiên Tri Giôna cảnh báo thành Ninivê, dân chúng liền cải thiện đời sống, và thế giới được tha rồi tồn tại đến hiện nay ra sao - phần lớn cũng nhờ vào một trong những vị ngôn sứ này! Thế nhưng, ngày nay ít có mấy người biết đến hoặc chưa hề nghe nói tới thánh Vicentê Fêrrê!
Thể theo sự thỉnh cầu của hàng giáo mục, giáo sĩ và dân chúng Valencia, ngài được triệu hồi về bản quốc, tiếp tục đôi việc của ngài là giảng dạy và thuyết pháp với danh tiếng lẫy lừng như thế, chứng tỏ cho thấy người tham dự cùng được chung hưởng phép lành của Đấng Toàn Năng, mà ngài tôn thờ khắp đất nước vượt trên những gì có thể tưởng tượng ra được. Để thử đức khiêm nhượng, Thiên Chúa cho phép một đồng bọn của satan đến quấy phá cám dỗ ngài phạm tội nhục thể, và vây phủ lấy ngài những tư tưởng xấu xa dơ bẩn bất chính. Những vũ khí mà thánh nhân chống lại quỷ dữ là ăn chay, cầu nguyện và ngài tỉnh thức không ngừng mỗi khi bốc cơn mê dục.  Phải nói là một khi càng thăng tiến trong nhân cách thì trông ngài càng đẹp và rạng rỡ thêm ra, phản ánh vẻ đẹp của một tâm hồn ngập lút tình thương Thiên Chúa. Cả khi về già vẻ đẹp rạng rỡ này cũng không hề tàn phai.  Tuy vậy, mỗi khi ngài thuyết giảng về Mẹ Thiên Chúa hay các niềm vui Thiên Đàng.  Ngài đặc biệt tỏ ra Say mê và hoan hỷ như một trẻ thơ biệt sùng Mẹ Maria vậy, nhất là vào lúc mà các tín hữu nguyện kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.  Tâm hồn của ngài luôn luôn hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện liên lỉ trong công việc bổn phận, trong lao nhọc, và trong mọi hành động. Những thao tác của ngài tương tự như trong tập sách để lại cho mọi Kitô Hữu với nhan đề, Khảo Luận về Đời Sống Thiêng Liêng, ngài viết như sau: “Con có muốn học hỏi để có lợi cho con không? Con hãy tôn vinh (Chúa) khi học hỏi và nên học ít đi để nên thánh chứ không phải học để thành người uyên bác..”
Thử suy gẫm một số câu văn (tư tưởng) trong tập sách tuyệt diệu này. “Công đức không phải vì con người nghèo khổ nhưng một khi họ (ở trạng thái) nghèo khổ mà lại yêu mến đức khó nghèo “Một câu hỏi vô bổ chỉ nên đáp lại bằng yên lặng… Cho nên con hãy học yên lặng một thời gian; anh em con sẽ cảm phục con và sự yên lặng sẽ dạy con lên tiếng khi cần phải lên tiếng.” “Con hãy tự coi mình là dơ bẩn và hèn hạ trước mặt Chúa vì tội lỗi của con hơn bất cứ người tội lỗi nào, bất kể tội của họ là gì đi nữa... và hãy suy nghĩ thật kỹ càng rằng bất cứ một ân sủng hay một khuynh hướng tốt lành nào hoặc một sự ham muốn sống nhân đức, thì đó không phải là do tự con mà có mà do lòng thương xót duy nhất của Chúa Kitô mà thôi.” “Con nên nhìn nhận rằng bất cứ một tội nhân nào đã phạm những tội tầy đình cũng có thể phụng sự Chúa tốt hơn con nếu họ cũng nhận được những ân sủng như con.” “Một khi thủ đắc được khiêm nhượng, thì đời sống bác ái sẽ đến - lửa sốt mến sẽ thiêu đốt hết những thói hư tật xấu và tâm hồn con sẽ đầy tràn đức mến chẳng còn chỗ cho phù vân giả trá.”
(còn tiếp sau phục sinh…)

Lễ Cầu Cho Các Linh Hồn bắt đầu từ đâu?

Phụng vụ dành ngày 2 tháng 11 để kính các linh hồn. Nguồn gốc lễ này bắt đầu từ đâu? Nó có giống với lễ Vu lan trong Phật giáo không? 




Như chị đã biết, lễ Vu lan được cử hành vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là Tết Trung nguyên. Có lẽ lễ này không bắt nguồn từ Phật giáo, nhưng từ phong tục dân gian. Dù sao, trọng tâm của niềm tin ngày rằm tháng bảy âm lịch là “xá tội vong nhân”: vào ngày này, các tội nhân dưới âm phủ được giải thoát. Thân nhân những người mới qua đời tổ chức lễ cầu siêu. Nguồn gốc của lễ các linh hồn bên Công giáo thì khác, với nhiều giai đoạn tiến triển khác nhau. Ta có thể lấy một mốc điểm lịch sử là ngày 2 tháng 11 năm 998, để từ đó theo dõi sự tiến triển khi đi ngược hay đi xuôi. 

Tại sao lấy ngày 2 tháng 11 năm 998 làm mốc điểm? 

Tại vì theo lịch sử, thánh Ôđilon, viện phụ thứ năm của đan viện Cluny dòng Biển đức đã ấn định dành ngày 2 tháng 11 (nghĩa là ngày hôm sau lễ kính các thánh) để cầu nguyện cho tất cả các tín hữu đã qua đời, qua việc dâng thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện và làm việc bác ái. 
 
Tại sao chọn ngày 2 tháng 11? 

Như vừa nói, cha Ôđilon chọn ngày 2 tháng 11 bởi vì liền kế ngày 1 tháng 11. Vào ngày này, phụng vụ mừng lễ kính tất cả các thánh, nghĩa là các tín hữu đã lìa đời và đang được hưởng hạnh phúc ở bên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng bên cạnh các phúc nhân, còn có những tín hữu khác đang trải qua cuộc thanh luyện. Vì thế, chúng ta cũng hãy nhớ cầu nguyện cho họ. 

Đây  một tư tưởng do cha Ôđilon gợi ra phải không? 

Chúng ta cần phân biệt nhiều khía cạnh: việc dành ngày 2 tháng 11 để cầu cho tất cả những người qua đời là sáng kiến của cha Ôđilon. Nhưng việc cầu nguyện cho những người đã qua đời thì đã có từ lâu rồi, mãi từ cuối thời Cựu ước, như chúng ta đọc thấy chứng tích trong sách Macabê, quyển hai, chương 12, khi ông Macabê quyên tiền gửi về đền thờ Giêrusalem để cầu nguyện cho các tử sĩ. Trong Tân ước, ta cũng thấy thánh Phaolô khuyên ông Timôthêô hãy cầu nguyện cho Onêsiphorô, một cộng tác viên với thánh Tông đồ tại Êphêsô (2Tm 1,16-18). Dĩ nhiên, tập tục này được duy trì trong suốt lịch sử của Hội thánh. Còn việc dành một ngày trong năm phụng vụ để cầu cho tất cả các linh hồn thì cũng đã có trước cha Ôđilon từ ba thế kỷ. 

Tại sao phải cầu nguyện cho những người qua đời? 

Việc tưởng nhớ những người qua đời được gặp thấy nơi nhiều dân tộc, với nhiều ý nghĩa khác nhau. Có khi việc tưởng nhớ người quá cố là dịp để thân quyến gặp gỡ nhau, để ôn lại công đức tiền nhân, bày tỏ lòng tri ân ngưỡng mộ, đồng thời khuyến khích nâng đỡ nhau trên đường đời. Có nơi thì tin rằng hương hồn của tổ tiên vẫn còn hiện diện với con cháu, vì thế họ được mời đến tham dự những biến cố quan trọng của gia đình, cũng giống như lúc sinh tiền. Có nơi tổ chức cúng giỗ để cung cấp lương thực và đồ dùng cho người quá cố, bởi vì người ta tin rằng những người bên kia thế giới cũng có những nhu cầu và sinh hoạt giống như ở đời này. Có nơi thì tổ chức lễ cầu siêu, xin cho các linh hồn còn bị giam ở địa ngục được giải thoát. Dĩ nhiên, không phải tất cả các quan niệm này đều phù hợp với đức tin Kitô giáo.

Thế thì các Kitô hữu cầu nguyện cho các người qua đời để làm gì? 

Trong việc cầu nguyện cho những người qua đời, có khá nhiều động lực khác nhau. Trước hết, chúng ta không thể nào bỏ qua khía cạnh tâm lý: những buổi cầu nguyện bên cạnh quan tài người chết hoặc vào dịp giỗ giáp tháng giáp năm nhằm bày tỏ sự thương tiếc người đã qua đi. Thế nhưng bên cạnh động lực tâm lý, dần dần đức tin Kitô giáo đã mang đến nhiều động lực mới. Ngay từ những lá thư đầu tiên (tựa như thứ thứ nhất gửi các tín hữu Têxalônica, chương 4, câu 13), thánh Phaolô đã nhắc nhở các tín hữu đừng buồn rầu như những kẻ thiếu niềm hy vọng. Thực vậy, đối với người tín hữu, cái chết không phải là sự tận diệt của cuộc sống, mà chỉ là ngưỡng cửa bước sang cuộc sống vĩnh cửu. Vì thế, các tín hữu tiên khởi gọi ngày qua đời là “sinh nhật” ( dies natalis), bởi vì họ được sinh vào cuộc sống mới. Điều này được áp dụng đặc biệt cho những vị tử đạo. Không lạ gì mà vào ngày giáp năm ngày tử đạo, các tín hữu họp nhau lại để đọc hạnh tích của vị tử đạo, không những để khuyến khích nhau bắt chước tấm gương can đảm, nhưng nhất là để tạ ơn Chúa vì đã cho một tín hữu được hoà đồng với Đức Kitô. Nói cách khác, việc mừng các vị tử đạo được liên kết với Thánh lễ, tức là lễ hy sinh của Đức Kitô. Các vị tử đạo là những người đã đi theo sát với Thầy mình trên đường thập giá, cho nên chắc chắn họ cũng được thông dự vào sự phục sinh với Người.

Nhưng  đâu phải tất cả các tín hữu đều tử vì đạo? 

Đúng rồi. Khi kính nhớ các vị tử đạo, các tín hữu xác tín rằng các ngài đang được hưởng vinh quang với Chúa rồi. Đó là buổi cử hành vui tươi. Thế nhưng không phải tất cả các tín hữu đều chết vì đạo. Nói cách khác, không phải tất cả các tín hữu sau khi qua đời đều nắm chắc sẽ được hưởng vinh quang với Chúa. Vì thế, những người qua đời cần được Hội thánh cầu nguyện để được thanh luyện khỏi tội lỗi, như chúng ta thấy phản ánh nơi đoạn văn trích từ sách Macabê quyển 2 chương 12 đã nhắc đến trên đây. Chúng ta chỉ cần trưng dẫn một chứng tích thì đủ rõ. Trong sách Tuyên xưng (Confessiones hay Tự thuật), thánh Augustinô kể lại lời trối trăn của thân mẫu Monica rằng: “Các con có thể chôn xác mẹ ở đâu cũng được. Mẹ chỉ xin các con một điều là dù các con ở đâu, thì hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa”. Câu nói này phản ánh một tập tục đã có từ lâu đời, đó là cầu nguyện cho các người qua đời trong khi dâng Thánh lễ. Thánh lễ là nơi mà các tín hữu sống cao độ tín điều về sự “thông hiệp các thánh”. Thực vậy, không những các tín hữu thông hiệp vào Mình và Máu của Chúa Kitô, nhưng còn thông hiệp với Nhiệm thể của Chúa là Hội thánh. Các Kinh nguyện Thánh Thể đều nhắc đến sự thông hiệp với Đức Maria, các thánh, các phúc nhân, và tất cả những ai đã ly trần. Sự tưởng nhớ này không những chỉ tuyên xưng rằng các người qua đời vẫn còn sống (chứ không bị hủy diệt ra tro bụi), nhưng còn cầu xin Chúa nhân lành thương xóa bỏ những thiếu sót của họ. Dĩ nhiên, không phải chỉ chúng ta (những người còn sống) chuyển cầu cho các người qua đời, nhưng là cả Hội thánh (nghĩa là kể cả Đức Kitô, Đức Maria và các phúc nhân) đều liên đới chuyển cầu cho các linh hồn. Ngoài việc cử hành Thánh lễ, Hội thánh cũng cầu nguyện cho các người qua đời bằng những kinh nguyện khác, cũng như bằng các công tác bác ái.

Lúc nãy, cha nói rằng việc cầu nguyện cho người qua đời đã có từ Cựu ước, còn việc dành một ngày để cầu cho tất cả những người qua đời thì mới chỉ thành hình từ thế kỷ VII. Lai lịch tục lệ này như thế nào? 

Trên đây, chúng ta nhắc đến lễ Trung nguyên, một ngày mà tục lệ dân gian ở Á đông cầu siêu cho các vong nhân. Ở Rôma thời cổ, cũng có một ngày cầu siêu như vậy, vào ngày 22 tháng hai dương lịch (nghĩa là vào ngày cuối năm theo lịch cổ Rôma). Không lạ gì mà nhiều nơi trong Giáo hội công giáo cũng muốn dành ra một ngày để cầu nguyện cho tất cả các người qua đời. Chứng tích cổ nhất là bản luật các đan sĩ của thánh Isiđorô Sevilla bên Tây ban nha (+636), truyền dâng Thánh lễ cho tất cả các người qua đời vào ngày thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Vào các thế kỷ sau đó, người ta thấy tại nhiều đan viện tại Đức, Pháp, Ý, chỉ định một ngày trong năm để cầu cho hết các linh hồn, tuy không trùng ngày như nhau. Với cha Ôđilon, thì ngày này được ấn định sau lễ kính các thánh. Nhờ uy tín của các đan viện Cluny, tục lệ này sớm lan tràn khắp châu Âu từ thế kỷ XI. 

Tục lệ mỗi linh mục dâng ba thánh lễ nhân ngày kính các linh hồn cũng bắt đầu từ thánh Ođilôn, phải không?

Không phải, tập tục này ra đời muộn hơn, bắt đầu từ cuối thế kỷ XV với các cha dòng Đaminh ở Valencia (Tây ban nha). Đức thánh cha Bênêđictô XIV năm 1748 châu phê tập tục này và nới rộng cho tất cả các linh mục bên Tây ban nha, Bồ đào nha, châu Mỹ la-tinh. Mãi đến năm 1915, đức thánh cha Bênêđictô XV mới nới rộng ra toàn thể Hội thánh. Dù sao, nên biết là Hội thánh không chỉ dành mỗi năm một ngày để tưởng nhớ các người đã qua đời. Nhiều tu viện và giáo xứ vẫn có thói quen cầu nguyện cho các linh hồn mỗi ngày, hay ít là mỗi tuần vào ngày thứ hai. 

Tại sao dành ngày thứ hai để cầu nguyện cho các linh hồn? 

Nguồn gốc tục lệ này là một quan điểm hơi kỳ quặc vào thời Trung cổ. Người ta cho rằng các linh hồn ở luyện ngục được xả hơi vào Chúa nhật để mừng Chúa Phục sinh, và qua ngày thứ hai, lại phải tiếp tục lao động. Vì thế, chúng ta nên giúp cho họ một tay. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta có thể cầu nguyện cho các linh hồn vào bất cứ ngày nào mà không cần đếm xỉa đến tập tục đó. 

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, op.

Tìm hiểu hang đá Bêlem và nhà thờ Giáng sinh

Tọa lạc cách thành phố Jerusalem 8 km về hướng Nam, nhà thờ Giáng sinh ở Bethlehem (Bêlem) là một trong những nhà thờ cổ nhất trên thế giới, có sinh hoạt liên tục từ lúc xây dựng vào thế kỷ thứ tư đến nay.

Nhà thờ được xây cất ngay trên hang đá Bêlem. Chứng cứ đầu tiên về hang Bêlem được tìm thấy trong quyển sách của ông Justin Martyr viết vào khoảng năm 160. 
 
Năm 327 thánh nữ Helène, mẹ của hoàng đế Constantin I cho xây cất nhà thờ Giáng sinh. 
 
Năm 529 nhà thờ bị đốt cháy trong cuộc nổi dậy Samaritan. 
 
Năm 565 hoàng đế Justinian I cho xây dựng lại và tồn tại đến nay.
 
Khi Bêlem bị người Ba Tư xâm chiếm vào năm 614, viên chỉ huy Shahrbaraz đã không ra lệnh tiêu hủy nhà thờ này vì nhìn thấy hình ba nhà chiêm tinh (cũng gọi là ba vị vua) phương Đông với trang phục của dân Ba Tư đến triều bái Hài nhi Giêsu lúc mới chào đời. 
 
Trong các lần chiến tranh với Hồi giáo, nhà thờ đã ngụy trang bằng cách làm cổng vào nhỏ lại và mặt tiền không có vẽ là nhà thờ.  Đó là lý do tại sao ngày nay nhà thờ Giáng sinh không có chút gì uy nghi cao cả.
 
Có lẽ nhờ thế, nhà thờ Giáng sinh đã giữ được tinh thần đơn sơ, khó nghèo như lúc Chúa sinh ra cách nay 2000 năm!
 
Khu nhà thờ Giáng sinh nhìn từ quảng trường Máng cỏ (Manger Square)
 


Phải lại gần hơn mới thấy cổng vào nhà thờ


Và phải cúi mình xuống mới vào được


Chính điện bên trong nhà thờ - Trên nền nhà là nơi khai quật...


Các nhà khảo cổ đã tìm được nền nhà thờ cũ từ năm 327


Tới gần bàn thờ - chú ý phía bên phải nơi có người đứng là cổng xuống hang đá Bêlem


Bên trái bàn thờ có hình Đức Mẹ và Chúa Hài đồng với nến cháy lung linh


Và khi tắt nến


Cổng bước vào hang đá Bêlem


Hành lang nhỏ dẫn tới hang đá Bêlem


Bước xuống các bậc thang là nơi Con Thiên Chúa ra đời
Bên phải: nơi Chúa sinh ra – Bên trái: máng cỏ


Máng cỏ nơi Chúa nằm sau khi sinh ra




Nơi Chúa Giêsu sinh ra được đánh dấu với ngôi sao 14 cánh


Các chữ vòng quanh bên trong ngôi sao: Hicde Virgine Maria Jesus Christus Natus Est
Có nghĩa là: Nơi đây Trinh nữ Maria đã hạ sinh Đức Giêsu Kitô


Chính diện hang đá Bêlem


Các hàng cột bên trong nhà thờ


Xen kẽ các bình đèn


Theo kiểu Chính thống giáo


Tạm biệt hang đá Bêlem


Tạm biệt nhà thờ Giáng sinh


Phía trước nhà thờ Giáng sinh là quảng trường Máng cỏ với đền thờ Hồi giáo


Cộng tác viên CĐV-News

Sưu tầm

Đức Thánh Cha tiếp kiến 7 ngàn người cao niên

VATICAN. ĐTC đề cao tầm quan trọng của những người cao niên trong đời sống Giáo Hội, xã hội và ngài chống lại nền văn hóa gạt bỏ, loại người già ra ngoài lề xa hội.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 15-10-2016, dành cho 7 ngàn người cao niên về Roma tham dự Ngày Năm Thánh Lòng Thương Xót, với sự giúp đỡ của Hiệp hội toàn quốc Italia các công nhân cao niên.
 Lên tiếng tại buổi tiếp kiến, ĐTC nói: ”Giáo Hội nhìn những người cao niên với lòng yêu mến, biết ơn và rất quí chuộng. Họ là thành phần thiết yếu của cộng đoàn Kitô và xã hội, đặc biệt họ tượng trưng những căn cội và ký ức của một dân tộc”.
 ĐTC đề cao kinh nghiệm của người cao niên như một kho tàng quí giá, không thể thiếu được để nhìn về tương lai trong niềm hy vọng và trách nhiệm. Ngài cũng nhắc đến sự kiện nhiều người cao tuổi quảng đại dùng thời giờ và tài năng Chúa ban để giúp đỡ và hỗ trợ những người khác: bao nhiêu người cao niên phục vụ ở các giáo xứ, người thì giữ cho Nhà Chúa được khang trang xứng đáng, người khác dạy giáo lý, linh hoạt phụng vụ, chứng nhân về đức bác ái. Trong gia đình, bao nhiêu ông bà chăm sóc các cháu, thông truyền cho các cháu những giá trị tinh thần và văn hóa của một cộng đoàn và một dân tộc. Ngoài ra, tại những nước bị bách hại, chính các ông bà thông truyền đức tin cho các thế hệ trẻ, dẫn đưa các trẻ em lãnh nhận bí tích rửa tội trong bối cảnh âm thầm, bí mật”.
 ĐTC không quên nhắc đến những người cao tuổi đang ở trong tình trạng bệnh tật, khó đi lại và cần được giúp đỡ. Ngài nói: ”Ngày nay tôi cảm tạ Chúa vì những người và các cơ cấu đang tận tụy phục vụ những người gia, giúp họ sống trong một bối cảnh thực sự nhân bản, trong đó mỗi người có thể sống xứng đáng giai đoạn quan trọng này của đời người”.
 ĐTC hy vọng các tổ chức và các thực tại xã hội có thể làm nhiều hơn nữa để giúp đỡ người cao tuổi biểu lộ tốt đẹp hơn khả năng của họ, tạo điều kiện để phẩm giá của họ được tôn trọng và đề cao giá trị. Ngài nói:
 ”Để được như thế, cần chống nạn nền văn hóa tệ hại, văn hóa gạt bỏ, đẩy người già ra ngoài lề vì cho rằng họ không còn sản xuất được nữa. Các vị hữu trách công quyền, các thực tại văn hóa, giáo dục và tôn giáo và tất cả những người thiện chí được kêu gọi dấn thân xây dựng một xã hội ngày càng đón nhận và bao gồm hơn. Một điều quan trọng nữa, đó là tạo điều kiện cho những tương quan giữa các thế hệ khác nhau. Tương lai của một dân tộc đòi phải có sự gặp gỡ giữa người trẻ và người già: người trẻ là sức sinh động của một dân tộc đang tiến bước và người già củng cố sức sinh động ấy bằng ký ức và sự khôn ngoan.
 Trước khi ĐTC tiến vào Đại thính đường Phaolô 6 ở nội thành Vatican, các tham dự viên đã sinh hoạt, nghe chứng từ và phần âm nhạc. Đặc biệt có bà cụ Maria Bernacchi, 104 tuổi, được một người trợ giúp và một người bạn đồng hành. Bà Maria được mãn nguyện vì được gặp ĐTC. Bà đã được các em bé tặng hoa trong buổi tiếp kiến. (SD 15-10-2016)
 G. Trần Đức Anh OP

Giáo Hội sắp có thêm 5 vị Hiển Thánh được tôn phong

VATICAN. Giáo Hội sắp có thêm 5 vị Hiển Thánh được tôn phong vào chúa nhật 16-10 năm nay.
Lúc 10 giờ sáng 20-6-2016, ĐTC đã nhóm công nghị Hồng Y để phê chuẩn và ấn định ngày tôn phong 5 vị chân phước lên bậc hiển thánh:
- Đứng đầu là chân phước Salomon Leclerq, người Pháp, thuộc dòng sư huynh các trường Công Giáo, tử đạo năm 47 tuổi trong thời Cách Mạng Pháp. Cũng như nhiều LM, tu sĩ nam nữ không chịu tuyên thệ trung thành với hiến pháp bài Công Giáo. sư huynh bị hành quyết năm 1792.
- Tiếp đến là Chân phước Manuel González García, GM giáo phận Palencia, Tây Ban Nha, nổi bật về lòng tôn sùng Thánh Thể và đã thành lập Liên hiệp đền tạ Thánh Thể và dòng các nữ tu thừa sai Thánh Thể Nazareth. Ngài qua đời tại thủ đô Madrid năm 1940.
- Thứ ba là chân phước LM Lodovico Pavoni, thuộc giáo phận Brescia bắc Italia và là một trong những nhà giáo dục tiên phong: hồi đầu thế kỷ 19 cha đề ra một kiểu mẫu giáo dục và dẫn vào công việc làm, đi trước các trường huấn nghệ chuyên nghiệp tân thời. Cha sáng lập dòng Nam Tử Đức Maria Vô Nhiễm, ngày nay quen gọi là dòng Pavoni. Cha qua đời năm 1849.
- Thứ tư là Chân Phước Alfonso Maria Fusco, thuộc miền Salerno nam Italia, nhiệt thành hoạt động mục vụ nơi các nông dân, huấn luyện giới trẻ, nhất là các trẻ em nghèo và mồ coi. Cha sáng lập dòng các nữ tu thánh Gioan Tẩy Giả và qua đời năm 1910, thọ 71 tuổi.
- Sau cùng là chân phước Elizabeth Chúa Ba Ngôi, Đan sĩ dòng Cát Minh nhặt phép (OCD) ở thành phố Dijon bên Pháp. Tuy chỉ sống 5 năm trong đan viện, nhưng đời sống thiêng liêng của chị lên tới đỉnh cao. Chị can đảm chịu đựng những đau khổ vì suy thận kinh niên quen gọi là bệnh Addison và qua đời năm 1906 lúc mới được 26 tuổi đời.
Công nghị bắt đầu với kinh Giờ Ba, sau đó ĐTC đã hỏi ý kiến và tuyên bố ngày tôn phong hiển thánh cho 5 vị chân phước sẽ là chúa nhật 16-10 năm nay.
 Ngoài ra, ĐTC đã quyết định nâng 4 Hồng Y đang ở đẳng phó tế lên đẳng linh mục. Đó là ĐHY Levada, nguyên Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, ĐHY Franc Rodé, nguyên Tổng trưởng Bộ các dòng tu; ĐHY Andre Cordero di Montezemolo, nguyên giám quản Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, sau cùng là ĐHY Albert Vanhoye dòng Tên, nhà kinh thánh nổi tiếng (SD 20-6-2016)
G. Trần Đức Anh OP

Các người nghèo, người bị loại trừ và bệnh tật là thịt xác của Chúa Kitô

VATICAN - Các người nghèo, ngưòi bị loại trừ và bệnh tật là thịt xác của Chúa Kitô. Khi giơ tay đụng đến người phong cùi, Chúa Giêsu dậy chúng ta đừng sợ hãi đụng chạm tới người nghèo và người bị loại trừ, bởi vì Ngài ở trong họ. Đụng chạm tới người nghèo có thể thanh tẩy chúng ta khỏi sự giả hình, và khiến cho chúng ta lo lắng cho điều kiện của họ.
ĐTC Phanxicô đã khẳng định như trên với hơn 40.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư hôm qua. Trong số các đoàn hành hương hiện diện cũng có một đoàn hành hương 50 người đến từ Việt Nam, do các cha Dòng Tên hướng dẫn. Cũng có một nhóm  12 người Phi châu tỵ nạn được Caritas Firenze hướng dẫn về hành hương Roma, gặp và chụp hình chung với ĐGH sau buổi tiếp kiến.
Trong bài huấn dụ ĐTC giải thích ý nghĩa lòng thương xót của Chúa Giêsu khi làm phép lạ cho người phong cùi được khỏi bệnh. Ngài nói: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn Chúa có thể thanh tầy con” (Lc 5,12): đó là lời xin mà chúng ta vừa nghe từ một người phong cùi. Người này không chỉ xin được chữa lành, nhưng được “thanh tẩy”, nghĩa là được chữa lành một cách toàn vẹn, trên thân xác và trong con tim. Thật thế, bệnh phong cùi đã bị coi như một hình thức chúc dữ của Thiên Chúa, của sự ô uế sâu xa. Người phong cùi phải ở xa tất cả mọi người; họ không thể đến đền thờ và tham dự việc thờ phượng Thiên Chúa. Xa cách Thiên Chúa và xa cách loài người. Họ có cuộc sống buồn thương.
Mặc dù vậy, người phong cùi này không chịu trận đối với bệnh tật cũng như đối với các quy định khiến cho anh ta trở thành một kẻ bị loại trừ. Để đến với Chúa Giêsu anh ta đã không sợ hãi vi phạm luật lệ, đi vào thành phố, là phạm điều anh ta không được làm, điều bị cấm; và khi tìm thấy Chúa anh quỳ gối xuống trước mặt Ngài và cầu xin Ngài: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con” (c. 12). Tất cả những  gì mà người bị coi là ô uế này làm và nói diễn tả đức tin của anh.  Anh nhìn nhận quyền năng của Chúa Giêsu: anh chắc chắn rằng Ngài có quyền chữa lành anh, và tất cả tuỳ thuộc nơi ý muốn của Ngài. Đức tin này là sức mạnh cho phép anh bẻ gẫy mọi quy ước và tìm gặp Chúa Giêsu, quỳ gối trước mặt Ngài, gọi Ngài là “Chúa”. ĐTC giải thích thêm cung cách hành xử  của người phong cùi như sau:
Lời khẩn nài của người phong cùi cho thấy rằng khi chúng ta đến với Chúa Giêsu, không cần phải làm các diễn văn dài dòng. Chỉ cần ít lời thôi, miễn là chúng được đi kèm bởi sự tin tưởng tràn đầy nơi sự toàn năng và lòng lành của Chúa. Thật thế, tín thác nơi ý muốn của Thiên Chúa có nghĩa là phó mình cho lòng thương xót vô biên của Ngài. Tôi cũng xin thổ lộ với anh chị em một điều riêng tư. Buổi tối trước khi đi ngủ, tôi đọc lời cầu nguyện ngắn này: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tầy con”. Và tôi đọc một Kinh Lậy Cha cho mỗi một vết thương của Chúa Giêsu, bởi vì Chúa Giêsu đã thanh tẩy chúng ta với các vết thương của Ngài. Mà nếu tôi làm điều này, thì anh chị em cũng có thể làm ở nhà và nói: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con” và đọc một Kinh Lậy Cha cho mỗi vết thương. Và Chúa Giêsu luôn luôn lắng nghe chúng ta.
Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói: Chúa Giêsu bị người phong cùi này đánh động một cách sâu xa. Tin Mừng thánh Marcô nhấn mạnh rằng “Ngài cảm thương anh ta, giơ tay ra đụng tới anh và nói: “Ta muốn, hãy được thanh tẩy” Cử chỉ của Chúa Giêsu đi kèm theo các lời nói của Ngài và khiến cho giáo huấn của Ngài được rõ ràng hơn. Chúa Giêsu giơ tay ra và còn đụng vào người phong cùi nữa, chống lại Lề Luật Môshê cấm đến gần một người phong cùi (x. Lv 13,45-436). Chống lại mọi điều luật, Chúa Giêsu giơ tay và còn đụng tới anh nữa. Có biết bao lần chúng ta găp gỡ một người nghèo đến gặp chúng ta! Chúng ta cũng có thể quảng đại, có thể cảm thương, nhưng không đụng tới tay họ. chúng ta cho họ một đồng bạc, nhưng tránh đụng tới tay họ, chúng ta vứt đồng bạc ở đó. Và chúng tra quên rằng người đó là thịt xác của Chúa Kitô ! Chúa Giêsu dậy chúng ta đừng sợ hãi đụng tới người nghèo và người bị loại trừ, bởi vì Ngài ở trong họ. Dụng chạm tới người nghèo có thể thanh tẩy chúng ta khỏi sự giả hình và khiến cho chúng ta lo lắng cho điều kiện của họ. Đụng chạm tới những người bị loại trừ. Hôm nay có các người trẻ này đồng hành với tôi. Có biết bao người nghĩ rằng họ ở lại trong đất nước của họ thì tốt hơn, nhưng tại đó họ đau khổ biết bao! Họ là những người tỵ nạn của chúng ta, nhưng biết bao người coi họ là những kẻ bị loại trừ. Tôi xin anh chị em, họ là anh em của chúng ta! Kitô hữu không loại trừ ai hết, nhưng cho họ chỗ và để cho tất cả mọi người đến.
Sau khi đã chữa lành người phong cùi, Chúa Giêsu truyền cho anh đừng nói với ai, nhưng Ngài bảo anh: “Hãy đi trình diện tư tế, và dâng lễ vật cho việc thanh tẩy như Môshê dậy để làm chứng cho họ” (c. 14). Việc sắp đặt này của Chúa Giêsu cho thấy ít nhất ba điều. Thứ nhất, ơn thánh hoạt động trong chúng ta không tìm khuynh hướng cảm xúc. ĐTC giải thích:
Bình thường ơn thánh di chuyển một cách kín đáo và không gây ồn ào. Để chữa lành các vết thương của chúng ta và dẫn chúng ta trên con đường của sự thánh thiện, ơn thánh làm việc bằng cách kiên nhẫn nhào nắn con tim chúng ta theo Trái Tim của Chúa, như vậy để nó càng ngày càng có các tư tưởng và tâm tình của Chúa hơn. Thứ hai, khi chính thức làm cho các tư tế kiểm thực việc lành bệnh đã xảy ra, và dâng một hy lễ đền tội, người phong cùi được tái gia nhập cộng đoàn tín hữu và cuộc sống xã hội. Việc tái hội nhập anh thành toàn việc lành bệnh. Như chính anh đã xin, giờ đây anh được thanh tẩy hoàn toàn. Sau cùng, khi trình diện với các tư tế, người phong cùi làm chứng cho Chúa Giêsu và quyền bính cứu thế của Ngài. Sức mạnh của lòng thương xót mà Chúa Giêsu dùng để chữa lành người phong cùi đã đưa đức tin của người ấy tới chỗ rộng mở cho việc truyền giáo. Anh đã là một người bị loại trừ, giờ đây anh trở thành một người trong chúng ta.
Rồi ĐTC kết thúc bài huấn dụ như sau: Chúng ta hãy nghĩ tới mình, tới các khốn nạn của mình… Mỗi người đều có sự khốn nạn của mình. Chúng ta hãy suy tư với lòng chân thành. Có biết bao lần chúng ta bao che chúng với sự giả hình của các “cung cách hành xử tốt”. Nhưng chính khi đó lại cần ở một mình hơn cả, quỳ gối xuống trước mặt Thiên Chúa và cầu nguyện: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tầy con”. Và anh chị em hãy làm điều đó, hãy làm điều đó mỗi chiều trước khi đi ngủ. Và bây giờ chúng ta hãy nói lên lời cầu đẹp này: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. Tất cả cùng nhau lập lại ba lần: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. Xin cám ơn anh chị em.
ĐTC đã chào nhiều đoàn hành hương khác nhau đến từ các nước Anh, Thụy Điển, Pháp, Đức, Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Canada, Hoa kỳ, Trung quốc, cũng như các đoàn hành hương đến từ các nước châu Mỹ Latinh như Brasil.
Trong số các nhóm hành hương Pháp ĐTC đặc biệt chào phái đoàn đại biểu dấn thân trong xã hội dân sự do ĐC Dominique Rey hướng dẫn. Ngài khuyến khích họ hãy dám đụng chạm tới người nghèo đang muốn chúng ta trợ giúp họ. Cử chỉ này giải thoát chúng ta khỏi sự giả hình và tha thứ nhiều tội lỗi cho chúng ta.
Chào các đoàn hành hương nói tiếng Anh ĐTC cầu mong Năm Thánh Lòng Thương Xót là dịp giúp gia đình họ nhận được nhiều ơn thánh Chúa và giúp canh tân tinh thần.
Chào các đoàn hành hương nói tiếng Đức ĐTC cầu mong tháng 6 kính Thánh Tâm Chúa Giêsu giúp mọi người ý thức được lòng thương xót của Chúa Giêsu đối với nhân loại và thắp lên nơi từng người ngọn lửa đức tin truyền giáo.
Với các nhóm nói tiếng Bồ Đào Nha ngài đặc biệt chào các thành viên cộng đoàn Doce Mãe de Deus, và các thành viên hiệp hội Escuteiros giáo phận Leira. Ngài khích lệ họ dấn thân phục vụ các lý tưởng cao đẹp bằng cách tận dụng mọi khả năng Chúa ban.
Chào các nhóm Ba Lan ngài nhắn nhủ họ noi gương người phong cùi kêu lên Chúa để Ngài giải thoát khỏi tội lỗi và các quên sót, đồng thời luôn nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, trái lại Ngài đến gặp gỡ, chữa lành, xá giải và tha thứ tội lỗi chúng ta.
Trong số nhiều đoàn hành hương Italia ĐTC chào tín hữu các giáo phận Alba, Alghero-Bosa, do các Giám Mục hướng dẫn, các bác sĩ và người thiện nguyện của nhà thương bách khóa Gemelli thành viên tổ chức “Trao ban cuộc sống với con tim”. Ngài cám ơn họ vì các hoạt động khám tim miễn phí cho người nghèo với phòng khám di động. Ngoài ra ngày thứ năm vừa qua nhà thương cũng đã khánh thành  nhà ngủ cho các người vô gia cư, do cộng đồng thánh Egidio điều hành, thành quả của Năm Thánh Lòng Thương Xót. ĐTC cũng chào các tham dự viên đại hội Giostra del Saracino tỉnh Arezzo, năm nay có đề tại là lòng thương xót. Ngài khích lệ họ dấn thân gợi lại các biến cố lịch sử và phổ biến sứ điệp hoà bình, đối thoại và đối chiếu các nền văn hóa nhân danh thánh Phanxicô.
Chào các bạn trẻ, ĐTC khích lệ họ tận dụng các tài năng Chúa ban. Ngài xin các anh chị em đau yếu dâng hiến khổ đau cho Chúa Kitô để cộng tác vào việc cứu độ thế giới. và nhắn nhủ các đôi tân hôn ý thức sứ mệnh không thể thay thế được của họ trong bí tích hôn nhân.
Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người.
Linh Tiến Khải

Đức Thánh Cha tiếp kiến Caritas Italia


VATICAN. ĐTC cổ võ các tổ chức Caritas Italia chu toàn công tác giúp mỗi tín hữu trở thành những chủ thể bác ái và gần gũi những anh chị em nghèo khổ.
 Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 21-4, dành cho 700 tham dự viên Hội nghị toàn quốc lần thứ 38 của Caritas các giáo phận Italia, vừa kết thúc khóa họp tại Sacrofano dưới quyền chủ tọa của ĐHY chủ tịch Francesco Montenegro, TGM giáo phận Agrigento.
 Lên tiếng trong dịp này ĐTC nói: ”Đứng trước những thách đố và mâu thuẫn thời nay, Caritas có nhiệm vụ khó khăn nhưng cơ bản, đó là làm sao để dịch vụ bác ái trở thành quyết tâm của mỗi người chúng ta, nghĩa là làm sao để toàn thể cộng đoàn Kitô trở thành những chủ thể thi hành bác ái. Vì thế, đối tượng chính trong cuộc sống và hoạt động của anh chị em là khích lệ và linh hoạt để toàn thể cộng đoàn tăng trưởng trong tình bác ái và luôn tìm ra những con đường mởi mẻ để gần gũi người nghèo hơn, có khả năng đọc và đương đầu với những tình trạng đang đè nặng trên hằng triệu anh chị em chúng ta ở Italia, Âu Châu và thế giới”.
 ĐTC nói thêm rằng: ”Đứng trước những thách đố hoàn cầu đang gieo rắc sợ hãi, bất công, những vụ đầu cơ tài chánh và cả lương thực nữa, sự suy thoái môi trường, và chiến tranh, cùng với công việc hằng ngày tại chỗ, cũng cần thi hành quyết tâm giáo dục về sự gặp gỡ trong tinh thần và huynh đệ giữa các nền văn hóa và văn minh, và chăm sóc thiên nhiên”.
 Trong bài huấn dụ, ĐTC cũng khuyến khích các Caritas giáo phận ở Italia luôn tìm cách đi đến tận các nguyên nhân gây ra nghèo đói và nỗ lực loại trừ chúng: nỗ lực phòng ngừa tình trạng bị gạt ra ngoài lề xã hội, ảnh hưởng trên những cơ cấu gây ra bất công, hoạt động chống mọi thứ cơ cấu tội lỗi. Để đạt mục tiêu ấy, cần giáo dục mỗi cá nhân và các nhóm về lối sống có ý thức, để tất cả mọi người thực sự cảm thấy có tinh thần trách nhiệm đối với mọi người.. Tiến trình này cần phải bắt đầu ngay từ Caritas giáo xứ.
 ĐTC không quên nhắc nhở các Caritas quan tâm đến những ngừơi di dân. Hiện tượng này cần được xử lý bằng những chính sách sáng suốt, nhắm đến sự hội nhập giữa những người nước ngoài và các công dân Italia.
 Sau cùng ĐTC khẳng định rằng ”chứng tá bác ái trở nên chân thực và đáng tin cậy khi chúng ta dấn thân trong mọi lúc và cả trong mọi quan hệ của cuộc sống: chiếc nôi và nhà của chứng tá bác ái chính là gia đình, là Giáo Hội tại gia. Gia đình, theo bản chất, chính là ”Caritas” vì chính Thiên Chúa đã thực hiện như vậy: linh hồn của gia đình và sứ mạng của gia đình chính là tình thương... Những câu trả lời đầy đủ nhất cho mọi khó khăn có thể được chính các gia đình cống hiến, những gia đình biết vượt lên trên cám dỗ liên đới ngắn ngủi và nhất thời, để chọn lựa cộng tác với nhau và với mọi dịch vụ khác ở địa phương, sẵn sàng thi hành các công tác phục vụ hằng ngày. (SD 21-4-2016)
 G. Trần Đức Anh OP