Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Lý Thêm Sức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Lý Thêm Sức. Hiển thị tất cả bài đăng
Bài 32  DÂN CHÚA MONG ĐỢI ĐẤNG CỨU THẾ

Bài 32 DÂN CHÚA MONG ĐỢI ĐẤNG CỨU THẾ

Bài 32
DÂN CHÚA MONG ĐỢI ĐẤNG CỨU THẾ

- Lời Chúa: Lc  3, 1- 18

- Ý chính:  Nhờ các ngôn sứ  loan báo, dân Chúa ngày càng mong đợi Đấng Cứu Thế đến.

- Giáo cụ trực quan: *Tranh:  Dân Chúa từ Babilon trở về (Sách Chúa nói với trẻ em trang 40).

                              *Sách Chúa nói với trẻ em đoạn 40, trang 41-42 và đoạn 52 trang 53-54.

I/ CẦU NGUYỆN ĐẦU GIỜ

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài thương thánh hoá buổi học cuối cùng trong năm học này của chúng con. Ước gì qua buổi học hôm nay, chúng con luôn biết mong chờ Chúa đến với mỗi người chúng con.

Hát: Cầu xin Chúa Thánh Thần.

II/ DẪN VÀO LỜI CHÚA 

1/ Ôn bài cũ và kiểm tra điều đã quyết tâm.

+ Ôn bài cũ :

- Điều răn thứ ba dạy ta điều gì ?  (Thánh hóa ngày Chúa nhật và các ngày Lễ buộc ).

- Thánh hóa ngày Chúa nhật là gì ? (Là dành ngày Chúa nhật để chúc tụng, tạ ơn và tôn vinh Chúa qua các việc : nghỉ việc xác để thời giờ tham dự thánh lễ, làm việc bác ái và tông đồ).

- Trọng tâm của ngày Chúa nhật là gì? (Thánh lễ).

+ Kiểm tra quyết tâm:

Trong tuần qua các em có chuẩn bị tham dự thánh lễ và tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật cách nghiêm túc, trọn vẹn như đã quyết tâm không ?

2/ Dẫn vào Lời Chúa.

Các em thân mến,

     Chúng ta đã tạm ngưng việc tìm hiểu Lịch sử cứu độ ở giai đoạn dân Israel được Chúa cho trở về quê hương sau 50 năm lưu đầy ở Babilon vào năm 538 TCN để tìm hiểu kỹ hơn về Giao Ước Sinai. Chúng ta đã tìm hiểu 3 giới răn đầu của 10 giới răn của Giao Ước Sinai. Hôm nay, chúng ta tiếp tục tìm hiểu vắn tắt Lịch sử cứu độ từ sau thời lưu đầy Babilon tới khi Đấng Cứu Thế ra đời. Trước khi bước vào bài học này, anh (chị) kể cho các em nghe một câu truyện.

     Một hoạ sĩ người Anh, qua đời vào khoảng giữa thế kỷ 20 đã để lại một bức tranh khá nổi tiếng . Đó là một bức tranh mô tả Đức Giêsu đang đứng gõ cửa trước một túp lều tranh . Trước khi đưa ra triển lãm, ông đã mời bạn bè và nhiều nhà danh họa khác tới để phê bình góp ý . Đứng trước bức tranh, ai ai cũng trầm trồ thán phục chứ không thể trách cứ điều gì.

     Nhưng người hoạ sĩ ấy vẫn chưa hài lòng về bức tranh của mình. Ông nghĩ rằng, có thể có nhiều lỗi lầm mà bạn bè chưa nhận ra. Cuối cùng, có một hoạ sĩ  trẻ đưa ra lời nhận xét :

- Thưa ông, tôi nhận thấy có một sai lầm cơ bản trong bức tranh của ông, ông đã quên vẽ vào cánh cửa một cái tay cầm. Nếu không có bàn tay, làm sao Đức Kitô có thể kéo cánh cửa ra được ? 

Nhà hoạ sĩ người Anh  đứng cười đáp :

- Thưa ông bạn, khi Đức Kitô gõ cửa nhà bạn, cánh cửa đó chỉ có thể được mở từ bên trong mà thôi .

     Các em thân mến !  Mỗi người chúng ta có một cánh cửa vô hình, đó là cánh cửa của tâm hồn. Chúa Giêsu muốn ngự vào lòng ta, nhưng còn tùy thuộc ở ta, ta có sẵn sàng mở cửa lòng mình,  để đón chờ Chúa hay không ?  Chờ đợi là dấu chứng của tình yêu : Càng mong chờ Chúa, càng yêu Thiên Chúa. Còn hạnh phúc nào bằng khi được gặp Chúa, được thoả lòng mong đợi. Các em hãy xem bức tranh sau đây để cùng hòa chung tâm tình  với những ngươì dân Chúa thời Cựu Ước .

     Các em hãy mở sách Chúa nói với trẻ em trang 40. Trước hết các em hãy nhìn vào bức tranh.

- Bức tranh này vẽ cảnh gì đây?  (Đây là bức tranh vẽ cảnh dân Chúa từ Ba-by-lon trở về).

- Các em hãy quan sát kỹ xem. Có một người vừa đi vừa thổi cái gì vậy?   (Thổi kèn) . Các em thấy gì nữa? (Một người bế con trên lưng lừa. Một người bế con đi bộ . Một già một trẻ vừa đi vừa nhảy múa).

- Bức tranh này diễn tả sự vui mừng hay buồn tẻ? (Diễn tả niềm vui của dân Chúa. Họ vui mừng hớn hở khi được thoả  lòng mong đợi trở về quê hương).

- Nhưng khi đã được trở về quê hương họ có cảm thấy hạnh phúc như họ mong đợi không?  Không, họ vẫn phải sống dưới ách thống trị của người nước ngoài: đế quốc Ba Tư, Hi Lạp, La Mã và phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khác. Vì thế, họ lại nuôi một niềm hy vọng khác : mong đợi Đấng Mêsia sẽ đến giải thoát họ theo như lời các Ngôn sứ đã loan báo. Các em mở sách Chúa nói với trẻ em trang 41 và đọc đoạn 40 để thấy điều này.

Và một lần nữa, niềm hy vọng đó lại bừng sáng lên qua đoạn Tin mừng hôm nay. Mời các em đứng lên, chúng ta lắng nghe Lời Chúa .

III. CÔNG BỐ LỜI CHÚA

Lc 3, 1-18

IV. GIẢI THÍCH LỜI CHÚA

1/ Dẫn giải Lời Chúa.

- Lời Chúa mà các em vừa nghe thuộc Tin Mừng nào ?  (Tin Mừng theo Thánh Lu- Ca) .

- Ai là nhân vật chính trong đoạn Tin mừng vừa nghe ?  (Ông Gioan tẩy giả ).

- Ông Gioan Tẩy giả là con của ai? ( Là con của ông Zacaria và bà Isave).

- Ông Gioan Tẩy giả đang làm gì? (Ông rao giảng về Đấng Mêsia (Đấng Cứu Thế), kêu gọi người ta ăn năn sám hối và chịu phép rửa để chuẩn bị đón Đấng Cứu Thế đến).

- Có nhiều người đến nghe và chịu phép rửa để chuẩn bị đón Đấng Cứu Thế không? (Có, rất đông).

     Các em hãy mở sách Chúa nói với trẻ em trang 53 và đọc đoạn 52 để thấy những việc ông Gioan đã làm hầu chuẩn bị cho dân chúng đón Đấng Cứu Thế và thấy được lòng mong đợi Đấng Cứu Thế của dân chúng.

     Chúng ta sẽ tìm hiểu về lòng mong đợi này trong phần bài học dưới đây.

2/ Giải thích câu hỏi thưa.

Câu 1: Các Ngôn sứ đã nói trước những gì về Đấng  Mêsia?

- Từ khi hứa ban Đấng Cứu Thế sau khi con người sa ngã (x. St 3, 15) và chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế xuất hiện khi chọn ông Abraham thì có thể nói đến thời vua Đavít, Thiên Chúa đã nói rõ về dòng dõi của Đấng Cứu Thế. Các em có nhớ Thiên Chúa nói với ai và nói khi nào về dòng dõi Đấng Cứu Thế không?

- Trước hết, Thiên Chúa nói với ai và qua người nào? (Thiên Chúa nói với vua Đavit và qua ngôn sứ Nathan).

- Thiên Chúa nói với vua Đavit qua ngôn sứ Nathan trong trường hợp nào? (Khi vua Đavit cảm thấy việc để hòm bia  Thiên Chúa nơi chiếc lều tạm trong khi ông ở trong cung điện khang trang là điều không chấp nhận được, ông đã nảy ra ý định xây cho Chúa một Đền thờ. Ông đem ý định này nói với ngôn sứ Nathan. Thiên Chúa hiểu rõ tấm lòng của vua Đavit đã nói với ngôn sứ Nathan để ngôn sứ nói lại với Đavít rằng : Thay vì vua Đavít xây cho Chúa một Đền thờ, Thiên Chúa sẽ ban cho ông một điều kỳ diệu là Đấng Cứu Thế sẽ thuộc dòng dõi của ông).

- Thiên Chúa đã nói với vua nào và qua ngôn sứ nào về người mẹ của Đấng Cứu Thế? [Thiên Chúa đã nói với vua A-Khát (Akhaz) qua ngôn sứ Isaia rằng : một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Emmanuel nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (Is 7, 14)].

- Thiên Chúa còn cho biết nơi sinh ra của Đấng Cứu Thế nữa. Nơi này là nơi nào và Thiên Chúa nói tin này qua ngôn sứ nào? [Thiên Chúa cho biết trước nơi Đấng Cứu Thế sinh ra là Bêlem qua ngôn sứ Mi-Kha (Mica)(Mk 5, 1)].

- Thiên Chúa có cho biết Đấng Cứu Thế sẽ cứu loài người bằng cách nào không? (Có). Bằng quyền lực hay bằng con đường tình yêu, con đường khổ giá? (Bằng con đường khổ giá: hy sinh chịu đau khổ và chịu chết để đền thay tội lỗi cho loài người).

- Thiên Chúa báo trước điều này qua ngôn sứ nào? (Ngôn sứ Isaia [x. Is 52, 13-53, 12 : Bài ca người tôi trung thứ 4)].

Như thế, qua các ngôn sứ, Thiên Chúa cho chúng ta biết Đấng Cứu Thế thuộc dòng dõi vua Đavít, được sinh ra ở Bê- lem từ một trinh nữ, Ngài cứu nhân loại bằng con đường tình yêu : hi sinh mạng sống để đền thay tội lỗi cho con người.

Đọc chung câu 1.

Câu 2: Dân Do thái thời đó mong đợi Đấng Mê-si-a thế nào?

- Dân Do Thái có mong đợi Đấng Cứu Thế đúng như các ngôn sứ đã loan báo là Đấng cứu độ loài người bằng con đường tình yêu không? (Không).

- Vậy họ mong đợi một Đấng Cứu Thế như thế nào? (Họ mong đợi một Đấng Cứu Thế cứu giúp họ về vật chất, cứu họ bằng quyền lực nghĩa là giúp họ phục hồi lại một đế quốc Israel hùng cường).

Đọc chung câu 2.

Câu 3: Có ai biết chờ đợi Đấng Cứu Thế (Đấng Mêsia) như là Đấng cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi không?

- Đa số dân Do Thái đều mong đợi một Đấng Cứu Thế cứu giúp họ về vật chất, biến nước họ trở thành một đế quốc. Có ai chờ đợi một Đấng Cứu Thế cứu chuộc họ và loài người khỏi tội lỗi như các ngôn sứ đã loan báo không? (Có).

- Họ thuộc thành phần nào? (Họ là những người nghèo của Thiên Chúa).

- Người nghèo của Thiên Chúa là những ai? (Là những người khiêm tốn chỉ biết tin tưởng và cậy dựa vào một mình Thiên Chúa).

- Các em có thể kể tên một số người không? (Mẹ Maria, thánh Giuse, ông Simêon, bà Anna, ông Zacaria, bà Isave…).

Đọc chung câu 3

Câu 4: Trước khi Đấng Cứu Thế xuất hiện, Thiên Chúa đã cho ai đi trước dẫn đường?

- Các em có biết tên người con của ông bà Zacaria và bà Isave mà Chúa đã cho ông bà sinh ra trong tuổi già là gì không? (Tên là Gioan).

- Khi sứ thần Chúa báo tin cho ông Zacaria trong đền thờ Giêrusalem là ông sẽ có con, sứ thần có nói với ông ấy về sứ mạng của con ông ấy không? (Có). Sứ mạng ấy là gì? (Sứ mạng ấy là dọn đường cho Đấng Cứu Thế).

- Ông Gioan đã dọn đường cho Đấng Cứu Thế thế nào? (Ông Gioan đã rao giảng về Đấng Cứu Thế, kêu gọi mọi người hãy ăn năn sám hối và chịu phép rửa thống hối để đón Đấng Cứu Thế).

- Có nhiều người tin và nghe lời ông chịu phép rửa để đón Đấng Cứu Thế không? (Có, rất đông).

- Ông Gioan có nói rõ ai là Đấng Cứu Thế không? (Có, ông nói rõ Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế).

- Để cho mọi người biết cách thế cứu chuộc loài người của Chúa Giêsu đúng như các ngôn sứ đã loan báo: cứu thế bằng con đường hi sinh mạng sống mình để đền thay tội lỗi cho loài người, ông Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu là gì? (Ông Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu là : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”).

Đọc chung câu 4.

Câu 5: Hằng năm, mùa nào ta sống lại tâm tình mong đợi Đấng Cứu Thế?

- Hằng năm ta mừng ngày Chúa cứu thế ra đời vào ngày nào? (Ngày 25 tháng 12, gọi là lễ Giáng Sinh).

- Để đón Chúa Giáng Sinh làm người, Hội Thánh dành bốn tuần để chuẩn bị đón Chúa. Bốn tuần trước lễ Giáng sinh này gọi là mùa gì? (Mùa Vọng).

- Chúng ta làm gì trong bốn tuần Mùa Vọng này? (Tham dự thánh lễ, tĩnh tâm, ăn năn sám hối, xưng tội, hi sinh hãm mình…).

Việc nào trong số các việc vừa kể giúp ta ý thức mình đang sống trong Mùa Vọng, mùa chuẩn bị đóng Đấng Cứu Thế và giúp ta làm tốt các việc còn lại hơn? (Thánh Lễ).

- Tại sao Thánh lễ giúp ta sống Mùa Vọng tốt nhất? Để trả lời câu hỏi này, các em hãy trả lời cho anh (chị) một số chi tiết sau đây:

* Trong các thánh lễ Mùa Vọng, cha chủ tế mặc áo lễ mầu gì? (Mầu tím).

* Mầu tím có ý nghĩa gì? (Mầu tím nói lên sự thiếu thốn một cái gì đó và mong chờ ai đó hoặc cái gì đó để làm đầy những thiếu thốn đó. Áo lễ mầu tím nói lên sự mong đợi Đấng Cứu Thế đến để cứu độ chúng ta).

* Các bài đọc Kinh Thánh trong các thánh lễ Mùa Vọng nói về điều gì? (Nói về Đấng Cứu Thế, sự mong đợi Đấng Cứu Thế của Dân Chúa trong lịch sử cứu độ và cách thế đón chờ Đấng Cứu Thế).

* Các lời nguyện trong các thánh lễ Mùa Vọng nguyện xin điều gì? (Là lời cầu nguyện của Hội thánh nguyện xin Thiên Chúa ban Đấng cứu độ cho chúng ta).

Do đó, thánh lễ là phương thế tốt nhất giúp ta chuẩn bị tâm hồn đón Đấng Cứu Thế đến với ta trong Mùa Vọng.

Đọc chung câu 5

Tóm lại, trước những hoàn cảnh khó khăn của đất nước và với lời rao giảng về Đấng Cứu Thế của các ngôn sứ, dân Chúa luôn mang tâm tình mong đợi và chuẩn bị đón Đấng Cứu Thế đến.


V. CẦU NGUYỆN GIỮA GIỜ

1/ Gợi tâm tình

Các em thân mến,

Ý thức được tội lỗi, cảm nghiệm được sự yếu đuối, lo lắng về những bất an trong cuộc sống, áy náy về đau khổ và sự chết của mình, dân Chúa ngày xưa luôn mong chờ Đấng Cứu Thế đến để giải thoát họ khỏi mọi lo lắng, bất an, ưu phiền … Cuộc sống của chúng ta hôm nay vẫn còn đầy những lo lắng, băn khoăn, ưu phiền đó…Chúng ta cũng cần Đấng Cứu Thế đến để mang lại bình an, niềm vui và hy vọng. Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu đã đến cách đây hơn 2000 năm rồi, nhưng vấn đề ta cần lưu tâm là Ngài đã đến với riêng ta chưa, đến với tâm hồn ta chưa. Nếu cuộc sống của ta chưa có bình an và hy vọng thì đó là dấu chỉ Đấng Cứu Thế chưa đến với ta. Nói đúng hơn, chúng ta chưa đón Đấng Cứu Thế đến với mình. Vì thế, việc chúng ta cần làm lúc này và trong suốt cuộc đời của mình là mở rộng lòng cầu xin Ngài đến với mình. Chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

2/ Lời nguyện

    “Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng Cứu độ”. Lạy chúa, đó niềm khát khao mong chờ của dân Israel xưa. Đó cũng là lời cầu  xin của chúng con hôm nay. Xin Chúa ban Đấng cứu độ cho mỗi người chúng con và mọi người, nhất là những người chưa nhận biết Chúa để Ngài giải thoát tất cả chúng con khỏi mọi lo âu, thất vọng, tội lỗi và sự chết. Xin Chúa giúp chúng con biết dọn chỗ trong tâm hồn mình bằng cuộc sống đạo hạnh, bác ái để đón Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

VI. SINH HOẠT:  

* Băng reo: Đấng Cứu Thế

Người điều khiển
Tất cả
Dân Chúa
Mong đợi
Mong đợi ai?
Đấng Cứu Thế
Đấng Cứu Thế
Là Đức Giêsu
Ngài đã đến
Giữa chúng ta. A! A! A!  (Nhảy lên và vung cao 2 tay).

VII. BÀI TẬP:

Khoanh tròn vào đầu câu đúng:

Trước khi Đấng Cứu Thế xuất hiện, Thiên Chúa  đã cho ai đi trước để dọn đường :

            a) Vua Đa-Vít                          b) Đức Mẹ    

            c) Thánh Giuse                       d) Gioan Tẩy Giả

VIII. SỐNG LỜI CHÚA

     Để hiểu đúng về Đấng Cứu Thế, chúng ta cần phải đọc Kinh Thánh. Tuần này các em quyết tâm mỗi ngày đọc một đoạn ngắn Phúc Âm theo Thánh Luca.

IX. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC

     Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh, chúng con dâng lên Chúa tâm tình cảm tạ tri ân vì hồng ân Chúa đã ban cho cho chúng con trong suốt một năm học giáo lý vừa qua. Trong năm học giáo lý này, Chúa đã giúp chúng con từng bước khám phá ra khuôn mặt đích thực của Chúa: rất giàu tình thương, cảm thông và kiên nhẫn đối với nhân loại yếu hèn của chúng con. Xin Chúa nâng đỡ giúp chúng con không để lãng phí những điều mà chúng con đã học hỏi, trái lại, luôn biết thi hành những điều Chúa dạy, để đời sống chúng con sinh hoa kết trái. Chúng con cầu xin  nhờ Đức Giêsu  Kitô Chúa chúng con. Amen.

Hát bài cảm tạ Chúa :

“Xin dâng lời cảm tạ" hay “Hồng ân Thiên Chúa bao la”

Trở về trang Mục Lục: Giáo án Lớp Thêm Sức 1 - Căn Bản I
Bài 30: Điều Răn Thứ  Hai  TÔN KÍNH DANH THIÊN CHÚA

Bài 30: Điều Răn Thứ Hai TÔN KÍNH DANH THIÊN CHÚA

Bài 30 :
Điều Răn Thứ  Hai
TÔN KÍNH DANH THIÊN CHÚA



- Lời Chúa: Xh  20, 7

- Ý chính: Điều răn thứ hai dạy ta tôn kính danh Chúa, vì danh Ngài là Thánh .

- Giáo cụ trực quan: *Tranh: Mô- sê và bụi gai bốc lửa(Số 20).                          

                                *Sách Chúa nói với trẻ em đoạn 13 trang 19-20.

I. CẦU NGUYỆN ĐẦU GIỜ
     Lạy Chúa Thánh Thần, xin thánh hoá giờ học này của chúng con . Ước gì nhờ giờ học này, chúng con hiểu biết và hết lòng tôn kính danh Chúa trong đời sống hàng ngày.

     Hát Cầu xin Chúa Thánh Thần.

II. DẪN VÀO LỜI CHÚA

1/ Ôn bài cũ và kiểm tra điều đã quyết tâm.

+ Ôn bài cũ:

- Sự thờ phượng Thiên Chúa được biểu lộ cách cụ thể qua các việc nào? (Cầu nguyện, giữ luật Chúa, tham dự Thánh lễ…).

- Trong các việc thờ phượng này, việc nào là hoàn hảo nhất? (Thánh Lễ).

+ Kiểm tra quyết tâm:

Các em có tham dự thêm một Thánh lễ ngoài Thánh lễ ngày Chủ nhật trong tuần qua không?

2/ Dẫn vào Lời Chúa.

     Để bắt đầu bài học mới, anh (chị) kể cho các em một câu truyện xảy ra tại Pháp vào thời  đệ nhị thế chiến (1939-1945). Hélène (Hê-len) là một bé gái sinh ra trong một gia đình lao động tại một tỉnh thuộc miền Bắc nước Pháp. Chiến tranh xảy ra khi Hélène vừa lên 7 tuổi. Cha em chết trong một cuộc giao chiến đầu tiên. Mẹ em cũng qua đời vì nghèo đói trong thời kỳnước Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Sau khi mẹ em qua đời, em về sống với bà ngoại. Nhưng vì bà ngoại cũng túng thiếu nên em phải đi làm để kiếm sống. Cuộc sống lăn lội giữa chợ đời khiến em suốt ngày thường nghe những tiếng chửi thề và bị lây nhiễm thói quen xấu là hay chửi thề .

     Một hôm, thấy các bạn cùng đi với cha mẹ đến Nhà Thờ dự lễ, Hélène tỏ ý muốn được rước lễ như các em cùng tuổi. Một giáo lý viên đã nói về Thiên Chúa cho em nghe. Nhưng khi cô giáo lý viên vừa nhắc tới tiếng Chúa thì Hélène liền thốt lên với tất cả sự bất bình : “Chị đừng nói với em tiếng Chúa nữa vì đó là tiếng chửi thề mà em đã nghe hằng ngày”.

     Thật đáng thương cho Hélène và nhiều người khác nữa. Danh Chúa chỉ được người ta nhắc đến trong những câu chửi thề. Đó là một xúc phạm trầm trọng đến Chúa. Giới răn thứ 2 nghiêm cấm điều đó bằng một mệnh lệnh mà Lời Chúa hôm nay muốn nói chúng ta : “Ngươi không được kêu tên Chúa một cách vô cớ”, mời các em đứng lên lắng nghe.

III. CÔNG BỐ LỜI CHÚA

Xh 20, 7

IV. GIẢI THÍCH LỜI CHÚA

1/ Dẫn giải Lời Chúa.

- Lời Chúa mà các em vừa nghe được trích từ sách nào ?  ( Sách Xuất hành)

- Lời Chúa nói về điều gì? ( Không được dùng danh Chúa một cách bất xứng).

- Danh Chúa có nghĩa là gì? (Là tên của Chúa).

- Các em có biết tên Thiên Chúa không?

Để biết tên Thiên Chúa là gì, các em hãy mở sách Chúa nói với trẻ em trang 19 và đọc đoạn 13.

Dựa vào đoạn Lời Chúa các em vừa đọc, các em hãy trả lời những câu hỏi về bức tranh này(Số 20).

- Khi dẫn đoàn vật đến núi Sinai, ông Môsê thấy điều lạ gì? (Bụi cây rực lửa mà không bị cháy).

- Vì tò mò ông tiến đến gần bụi gai và ông đã nghe tiếng nói của ai? (Của Thiên Chúa).

- Thiên Chúa đã nói gì với ông? (Thiên Chúa sai ông dẫn dân Ngài ra khỏi Ai Cập).

- Để cho dân chúng tin là Chúa đã sai ông, ông đã xin Chúa điều gì? (Ông xin Chúa cho ông biết tên của Ngài).

- Chúa có cho biết không? (Có).

- Vậy tên Chúa là gì? (Là Giavê nghĩa là Đấng tự mình mà có).

- Đối với người Do thái nói riêng và dân Á  Đông chúng ta nói chung tên tượng trưng cho cái gì? (Tên tượng trưng cho người, tên tức là người. Vậy tên của Thiên Chúa là chính Thiên Chúa).

- Trong ngôn ngữ Do Thái, chữ Giavê nói lên điều gì?

     Chữ Giavê  nói lên sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa. Qua Danh Xưng này, Thiên Chúa muốn nói rằng Ngài luôn ở với con người. Ngài luôn có đó, Ngài là sức mạnh, là tình yêu vĩnh hằng. Như thế, khi cho ông Môsê biết tên của mình là Giavê, Thiên Chúa tỏ lộ dung nhan và trái tim của Ngài. Ngài muốn đi vào trong quan hệ yêu thương với con người.

Như thế, gọi tên Ngài một cách vô cớ là biến Ngài thành một dụng cụ để ta sử dụng theo ý mình, sai khiến Ngài như một tên nô lệ của mình. Đó là lý do tại sao ta không được gọi tên Chúa cách vô cớ. Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về giới răn thứ 2 này trong phần bài học dưới đây.

2/ Giải thích câu hỏi thưa.

Câu 1: Điều răn thứ 2 dậy ta những gì?

     Nếu bạn của các em kêu tên bố của các em ra để diễu cợt, để chửi các em, các em có cảm thấy mình bị xúc phạm không? (Có).

     Cũng vậy, nếu ta gọi tên Thiên Chúa khi không có lý do gì hoặc đem tên của Chúa ra để diễu cợt, để bào chữa việc làm sai trái của mình hoặc sử dụng tên Chúa để vụ lợi cho mình thì ta có xúc phạm đến Thiên Chúa không? (Có)

     Vì sao? (Vì tên của Chúa là chính Chúa, Ngài là Đấng toàn năng và là Tình yêu).

     Do đó, ta phải có thái độ nào đối với tên của Thiên Chúa? (Phải tôn kính tên của Ngài).

     Ngoài việc tôn kính tên của Chúa chỉ chính Chúa thì tên của Chúa còn liên hệ đến ai, đến vật gì nữa không? (Có, liên hệ đến những người, những đồ vật đã được thánh hiến cho Chúa, nghĩa là đã thuộc riêng về Ngài)

     Đó là những ai, những đồ vật nào? (Đó là Mẹ Maria, các thánh, những người được thánh hiến : Giám mục, Linh mục, các Phó tế .Đó là những đồ vật được sử dụng để tế lễ : chén thánh, thánh giá, bàn thờ…. Đó là những nơi thánh : nhà thờ, nghĩa trang).

     Như vậy, đối với những người, các đồ vật, những nơi đã được thánh hiến cho Chúa này, ta phải có thái độ gì? (Ta phải tỏ lòng kính trọng).

Đọc chung câu 1.

Câu 2: Có những tội nghịch cùng điều răn thứ hai?

Những tội nghịch cùng điều răn thứ hai gồm có :

- Kêu tên Thiên Chúa, Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh  một cách bất kính.

- Không  giữ những điều đã thề hứa nhân danh Thiên Chúa.

- Nói phạm Thiên Chúa và Hội Thánh.

- Thề gian.

Đọc  chung câu 2

Câu 3: Khi nào được lấy tên Thiên Chúa mà thề?

- Có bao giờ các em nói một điều rất thật vì chính mình đã nghe, đã thấy mà người khác không tin không? (Có).

- Có bao giờ người khác vu oan cho các em một điều nghiêm trọng nào đó mà các em đã không làm không? (Có).

- Nếu những điều này gây tai hại trầm trọng cho mình hoặc cho ai đó, ta có thể lấy tên Chúa mà thề không? (Được, ta có thể lấy tên Chúa mà thề).

Đọc chung câu 3.

Câu 4: Việc đặt tên thánh khi lãnh bí tích rửa tội có ý nghĩa gì? (Giải thích ngắn gọn và cho các em đọc chung).

Câu 5: Để tôn vinh Thiên Chúa trong mọi sự, ta nên làm gì?

- Tôn vinh Thiên Chúa là gì? (Là nhìn nhận Ngài là Đấng toàn năng luôn ở trong ta, bên cạnh ta, luôn yêu thương ta và luôn phù giúp ta).

- Vậy để tôn vinh Thiên Chúa trong mọi sự, ta nên làm gì? (Ta nên làm dấu thánh giá khi thức dậy, khi bắt đầu cầu nguyện, tham dự phụng vụ, khi bắt đầu ăn cơm và khi bắt đầu làm bất cứ công việc nào).

Đọc chung câu 5

Như vậy, giới răn thứ hai cho ta biết Thiên Chúa cũng có Tên và dậy ta phải tôn kính Tên (hay Danh) của Ngài vì Tên của Thiên Chúa là chính Thiên Chúa (tên tức là người).

V. CẦU NGUYỆN GIỮA GIỜ

1/ Gợi tâm tình .

Các em thân mến,

     Cũng như mỗi người chúng ta đều có một tên gọi, Thiên Chúa cũng có một tên gọi. Tên Ngài là Giavê nghĩa là “Đấng tự mình mà có và luôn luôn có”, Ngài luôn ở với con người để yêu thương con người. Khi cho chúng ta biết tên của Ngài, Ngài muốn thiết lập một tương quan yêu thương Cha-Con giữa Ngài với chúng ta như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta gọi Ngài là Cha : ”Lạy Cha chúng con ở trên trời…”. Vì thế, chúng ta có bổn phận phải tôn kính Tên hay Danh của Ngài, không được gọi tên Ngài một cách vô cớ. Tôn kính Tên của Ngài là luôn tin tưởng vào Ngài. Những hành động mê tín, dị đoan, sử dụng bùa ngải, yêu thuật, bói toán, dùng tên Ngài mà thề hứa bừa bãi, thề gian đều là những tiếng kêu cầu Danh Thiên Chúa một cách vô cớ. Để luôn là người con ngoan của Cha trên trời biết tôn kính Danh Cha mình, chúng ta cần tới sự trợ giúp của Cha, chúng ta hãysốt sắng dâng lời cầu nguyện.

2/ Lời nguyện .

     Lạy Thiên Chúa  là Cha chúng con, chúng con xin tạ ơn Cha, vì Cha đã mặc khải Danh Thánh của Cha cho loài người chúng con. Khi Cha cho chúng con biết tên của Cha là Cha muốn nói với chúng con Cha luôn yêu thương chúng con và chờ đợi chúng con tin tưởng và phó thác cuộc đời chúng con nơi Cha. Xin Cha ban cho chúng con biết tôn kính, yêu mến Thánh Danh Cha và luôn ca ngợi danh Cha mọi ngày trong suốt cuộc đời qua lòng tin mãnh liệt vào Cha, biết phó thác cuộc sống mình cho Cha và nhớ tới Cha trước khi bắt đầu làm bất cứ điều gì. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Con Cha, Chúa chúng con. Amen.

VI . SINH HOẠT - Băng reo: CON MỘT CHA

Người điều khiển
Tất cả
Chúng ta
Là anh em (Từng cặp quay vào nhau bắt tay)
Chúng ta
Là chị em (Quay mặt đổi cặp, bắt tay)
Chúng ta
Luôn hiệp nhất (Hai tay nắm hai người bên cạnh)
Chúng ta
Con một Cha (Lên giọng, kéo dài chữ Cha. Nắm tay nhau đưa lên cao, cho đến khi dứt tiếng Cha, bỏ tay xuống)

VII. BÀI TẬP
Các em hãy xem 2 câu sau đây đúng hay sai:

1. Em bé của Toàn hắt hơi, Toàn buột miệng kêu Giêsu Maria. Toàn làm vậy thì đúng hay sai ?

2. Minh đã ăn cắp của bạn Hòa 2 viên bi. Bạn Hòa nghi ngờ Minh ăn cắp bi của mình. Minh nói mình không ăn cắp nhưng Hòa không tin. Minh liền làm dấu và lấy tên Chúa thề không ăn cắp bi. Minh làm vậy thì đúng hay sai?

VIII. SỐNG LỜI CHÚA

Để tôn vinh Danh Thánh Chúa, trong tuần này các em vào mỗi sáng thức dậy, hãy làm dấu thánh giá, đọc kinh, dâng ngày cho Chúa.

IX.  CẦU NGUYỆN KẾT THÚC
     Lạy Chúa, chúng con xin cám ơn Chúa đã giúp chúng con nhận biết sự cao cả của Danh Chúa và sự cần thiết của việc tôn kính Danh Chúa trong đời sống hằng ngày của chúng con. Xin Chúa thương ban cho mỗi người chúng con thực hành được điều mà chúng con vừa quyết tâm. Amen.

   Đọc kinh Sáng danh .


Trở về trang Mục Lục: Giáo án Lớp Thêm Sức 1 - Căn Bản I
Bài 31: Điều Răn Thứ Ba THÁNH HÓA NGÀY CỦA CHÚA

Bài 31: Điều Răn Thứ Ba THÁNH HÓA NGÀY CỦA CHÚA

Bài 31:
Điều Răn Thứ Ba
THÁNH HÓA NGÀY CỦA CHÚA

- Lời Chúa:  Xh  20, 8-11

- Ý chính: Chúa nhật là ngày đầu tuần, ngày của Chúa, ta nên dành ưu tiên cho cho  việc thờ phượng Chúa bằng cách giảm bớt những công việc trong ngày để đi tham dự thánh lễ, các giờ cầu nguyện chung, riêng và làm việc bác ái.

- Giáo cụ trực quan : Sách Chúa nói với trẻ em đoạn 98, trang 94.



I. CẦU NGUYỆN ĐẦU GIỜ 

      Lạy Chúa Giêsu, xin hướng dẫn chúng con trong giờ học hôm nay để chúng con hiểu biết được ý của Chúa muốn chúng con sống thế nào trong Ngày của Chúa tức là ngày Chúa Nhật hầu chúng con làm vinh danh Chúa, ø góp phần cứu rỗi chính chúng con và người khác.

Đọc kinh Cúi xin Chúa sáng soi.

II. DẪN VÀO LỜI CHÚA

1/ Ôn bài cũ và kiểm tra điều đã quyết tâm.

+ Ôn bài cũ :

- Tên (hay Danh) của Thiên Chúa là gì? (Giavê).

- Giavê có nghĩa là gì? (Thiên Chúa là Đấng tự mình mà có và luôn luôn có).

- Ai cho ta biết tên của Thiên Chúa. (Chính Thiên Chúa).

- Khi Thiên Chúa cho ta biết tên của Ngài, Ngài muốn thiết lập tương quan gì giữa Ngài với chúng ta? (Tương quan tình yêu).

- Vậy qua giới răn thứ 2 nói ta không kêu tên Chúa cách vô cớ, Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì để tôn kính tên của Ngài? (Hãy tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa).

- Có những tội nào nghịch với giới răn thứ 2 ? (Theo sách học sinh, câu 2).

+ Kiểm tra quyết tâm:

Trong tuần qua các em có nhớ làm dấu thánh giá và đọc kinh cầu nguyện dâng ngày cho Chúa khi vừa thức dậy không?

2/ Dẫn vào Lời Chúa.

     Có một người đàn ông nọ sa cơ thất thế phải đi ăn xin, kiếp sống cơ cực khiến ông hồi tâm muốn quay về với Chúa. Trong lời cầu nguyện tha thiết dâng lên Chúa, ông chỉ xin được đủ ăn đủ mặc và Chúa đã nhận lời ông. Ngài đã ban cho ông 10 quả táo thần diệu và truyền cho ông sử dụng chúng như sau:

- Ngươi hãy ăn 3 quả cho đỡ đói, 3 quả khác ngươi hãy đem bán lấy tiền kiếm nơi qua đêm, 3 quả nữa, ngươi hãy đem đổi chác để lấy quần áo che thân, còn một quả cuối cùng hãy dâng lên Thiên Chúa để tỏ lòng biết ơn của ngươi.

     Người đàn ông đã sử dụng 9 quả táo đầu tiên như ý Chúa. Đến quả thứ mười, ông không làm như vậy, quả táo này xem ra lớn  và ngon hơn 9 quả kia. Thế nhưng tại sao Thiên Chúa lại đòi dâng quả táo thứ mười lên Ngài? Ngài có thiếu thốn gì đâu! Suy đi tính lại mãi, cuối cùng ông ăn luôn quả táo thứ mười.

     Câu truyện ngụ ngôn trên đây muốn nói lên thái độ so đo tính toán và vô ơn của con người đối với Thiên Chúa.

     Theo quan niệm thông thường của mọi dân tộc, kẻ vô ơn thường bị đánh giá là hạng vô liêm sỉ nhất. Có lẽ không lời rủa xả nào thậm tệ cho bằng hai tiếng vô ơn. Chắc chắn không ai trong chúng ta muốn mình mang tiếng là kẻ vô ơn với Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên và cứu chuộc chúng ta. Sống giới răn thứ ba là cách đáp đền ơn Chúa cách tốt nhất. Mời các em đứng lên lắng nghe Lời Chúa nói về giới răn thứ ba này.

III. CÔNG BỐ LỜI CHÚA

Xh 20, 8-11

IV.  GIẢI THÍCH LỜI CHÚA

1/ Dẫn giải Lời Chúa.

- Lời Chúa mà các em vừa nghe trích từ sách nào ?  (Sách Xuất hành).

- Đoạn Lời Chúa này nói về điều gì? (Ngày thứ 7 là ngày Sa-bat (ngày nghỉ) kính Thiên Chúa).

- Phải sống thế nào trong ngày này? (Phải nghỉ việc làm ăn, không được làm công việc nào).

- Đoạn Lời Chúa có nói lý do tại sao Thiên Chúa muốn dân Do Thái nghỉ làm việc và dành riêng ngày này để kính Ngài không? (Vì Thiên Chúa đã làm việc : tạo dựng nên trời đất muôn vật trong 6 ngày và Ngài đã nghỉ ngày thứ 7. Bởi đó Thiên Chúa chúc phúc cho ngày đó và coi đó là ngày thánh).

- Người kitô hữu chúng ta cũng dành một ngày để kính Thiên Chúa, đó là ngày nào? (Ngày Chúa nhật).

- Tại sao chúng ta không dành ngày cuối tuần, ngày thứ 7 để kính Thiên Chúa như  Lời Chúa nói mà lại chọn ngày Chúa nhật, ngày đầu tuần? (Vì Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta sống lại vào ngày đầu tuần nên người Kitô hữu chọn ngày đầu tuần để mừng cuộc phục sinh của Chúa và gọi đó là ngày Chúa nhật, tức là ngày của Chúa.)

Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về ngày Chúa nhật ở phần bài học dưới đây.

2/ Giải thích câu hỏi thưa.

Câu 1: Điều răn thứ ba dậy ta những gì?

- Các em nhắc lại xem nội dung của đoạn Lời Chúa chúng ta vừa nghe là gì? [Nói về giới răn thứ ba : thánh hóa ngày lễ nghỉ (ngày Sa-bát)].

- Theo phần dẫn giải Lời Chúa ở trên, người Kitô hữu chuyển ngày lễ nghỉ, ngày thứ 7 của người Do Thái sang ngày nào? (Chuyển sang ngày Chúa Nhật vì là ngày Chúa Giêsu Kitô sống lại).

- Vậy đối với người Kitô hữu chúng ta, giới răn thứ ba dậy ta những gì? (Dậy ta thánh hóa ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc).

Đọc chung câu 1.

Câu 2: Ngày Chúa nhật có những ý nghĩa nào?

- Theo đoạn Lời Chúa của bài học hôm nay, Thiên Chúa nói ta nghỉ ngày thứ 7 vì lý do gì? (Vì Thiên Chúa đã tạo dựng muôn vật muôn loài trong 6 ngày, ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi).

Vậy ngày thứ 7 là ngày Thiên Chúa hoàn tất công trình tạo dựng.

- Nhưng công trình tạo dựng của Chúa có bị làm cho lộn xộn không? Do ai? (Công trình tạo dựng của Thiên Chúa bị làm cho lộn xộn do tội lỗi của con người, của ông bà nguyên tổ chúng ta).

- Thiên Chúa có ý định làm lại và hoàn tất công trình tạo dựng không? (Có, Ngài đã sai Con Một của mình xuống thế làm người là Đức Giêsu Kitô để làm lại công trình tạo dựng, làm một cuộc tạo dựng mới).

- Chúa Giêsu Kitô làm một cuộc tạo dựng mới khi nào? (Khi Ngài sống lại từ cõi chết vào ngày Chúa nhật).

     Như thế, ngày Chúa nhật là ngày Chúa Giêsu phục sinh, ngày sáng tạo mới. Cùng với Chúa Kitô, một sự sống mới được tuôn tràn, một nhân loại mới được khai sinh. Hơn nữa, ngày thứ 7, lễ nghỉ của người Do Thái, do tội lỗi, chưa trọn vẹn, đã được Chúa Giêsu Kitô làm cho trọn vẹn vào ngày Ngài sống lại, nên ngày Chúa nhật còn có ý nghĩa là ngày làm hoàn tất lễ nghỉ (ngày Sa-bát) của người Do Thái và hướng tới sự nghỉ ngơi muôn đời nơi Thiên Chúa vào ngày tận thế, ngày Chúa Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, ngày Thiên Chúa hoàn tất hoàn toàn công trình tạo dựng của mình, ngày hạnh phúc vì đó là ngày sẽ không còn đau khổ, nước mắt, khăn tang, chết chóc như Lời Chúa nói trong đoạn sách chúng ta sắp đọc sau đây. Các em mở sách Chúa nói với trẻ em trang 94 và cùng đọc đoạn 98.

Đọc chung câu 2.

Câu 3: Ta phải làm gì để thánh hóa ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc?

     Trước khi biết ta phải làm gì để thánh hóa ngày Chúa Nhật, ta phải hiểu thánh hóa ngày Chúa Nhật là gì.

- Để có được cuộc sống ta hiện có, để ta được khôn lớn, học hành … như hiện nay, ta đã được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Trong các người này, các em mang ơn ai nhất? (Cha mẹ, thầy cô, quý cha, các tu sĩ ).

- Chắc chắn trong tâm hồn mình, ta luôn biết ơn các vị này, nhưng cũng có những dịp ta bầy tỏ lòng biết ơn đó ra bên ngoài. Em nào có thể cho biết đó là những dịp nào không? (Ngày tết nguyên đán hoặc ngày sinh nhật, lễ bổn mạng, …của các vị ấy).

- Trong những ngày ấy, ta làm gì? (Ta mặc đẹp, dâng hoa và nói những lời chúc tốt đẹp với các vị ấy).

- Ngoài các vị ân nhân trần gian mà chúng ta vừa nói ở trên, ta còn một vị ân nhân vô cùng cao cả mà nếu không có Vị này, chúng ta không có mặt ở đời này. Các em có biết vị đó là ai không? (Vị ấy là Thiên Chúa).

- Ta cũng phải tỏ lòng biết ơn với vị đại ân nhân của chúng ta là Thiên Chúa như tỏ lòng biết ơn các vị ân nhân trần gian của chúng ta. Với giới răn thứ ba, Thiên Chúa đề nghị chúng ta cách tỏ lòng biết ơn Ngài là gì? (Dành ngày Chúa nhật cho Ngài : thờ phượng, dâng lời chúc tụng, tạ ơn, tôn vinh Chúa vì hồng ân sự sống Ngài ban cho nhân loại).

- Như vậy thánh hóa ngày Chúa nhật là gì? (Là dành ngày Chúa nhật để thờ phượng, chúc tụng, cảm tạ và tôn vinh Chúa).

- Vậy ta phải làm gì để thánh hóa ngày Chúa nhật, nghĩa là để thờ phượng, chúc tụng, cảm tạ Chúa? (Ta phải dự Thánh lễ, nghỉ việc xác, làm việc bác ái, tông đồ).

Đọc chung câu 3.

Câu 4+5 : Ta phải dự thánh lễ Chúa nhật thế nào cho đúng luật Hội Thánh?

- Các em có còn nhớ Thánh lễ cử hành điều gì không? (Cử hành việc Chúa Giêsu chịu chết và sống lại để cứu chuộc chúng ta, thực hiện cuộc tạo dựng mới).

- Trong Thánh lễ, chính Chúa Giêsu dâng của lễ là chính con người bị bầm dập của mình lên Chúa Cha để làm gì?

(Để đại diện loài người dâng lời chúc tụng, tạ ơn Chúa Cha đã thương cứu chuộc loài người).

Vậy Thánh lễ là lời tạ ơn Chúa tốt nhất, nên trọng tâm của ngày Chúa nhật là Thánh lễ.

- Thánh lễ gồm mấy phần? (Gồm 2 phần : Phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể).

- Theo luật Hội Thánh, ta phải tham dự thánh lễ như thế nào mới trọn vẹn? (Phải tham dự cả 2 phần, nghĩa là tham dự từ đầu tới cuối).

- Nếu ta cố tình bỏ lễ Chúa nhật thì  có sao không? (Ta mắc tội trọng).

- Trong trường hợp ta có lý do chính đáng như đau ốm, nếu bỏ lễ thì có mắc tội không? (Không mắc tội, nhưng phải cầu nguyện và làm các việc lành để bù lại).

Đọc chung câu 4+5.

Câu 6: Ta phải nghỉ việc xác như thế nào?

- Thông thường là nghỉ công việc làm ăn để có thời gian tham dự thánh lễ - thăm hỏi người thân, bà con lối xóm, người yếu đau - giúp người nghèo – làm việc công ích.

- Nhưng có trường hợp nào được phép làm việc ngày Chủ nhật không ?  Chúng ta được làm việc ngày Chúa nhật trong các trường hợp sau đây :

* Làm việc công ích như làm đường, sửa đường đi lại trong khu xóm…

* Giúp người nghèo như  làm nhà tình thương cho người nghèo…

* Thu hoạch mùa màng gấp vì ngày hôm sau đài khí tượng báo sẽ có thiên tai như lũ lụt, bão táp…

* Vì quá thiếu thốn, nếu nghỉ đi làm ngày chủ nhật sẽ đói…

Đọc chung câu 6

Tóm lại, giới răn thứ ba dậy ta rằng ngày Chúa nhật là ngày của Chúa, chúng ta phải thánh hóa ngày đó nghĩa là tham dự Thánh Lễ, nghỉ việc xác, học hỏi Giáo lý, làm việc bác ái và tông đồ.

III. CẦU NGUYỆN GIỮA GIỜ

1/ Gợi tâm tình.

Các em thân mến,

     Do tội lỗi, loài người chúng ta phải chịu đau khổ và phải chết. Nhờ sự chết và sự sống lại của con Chúa là Đức Giêsu Kitô vào ngày thứ nhất trong tuần, tức ngày Chúa nhật, chúng ta được trở nên tạo vật mới, trở nên con Thiên Chúa, được tham dự vào sự sống lại và sự sống đời đời của Chúa. Ơn này lớn lao vô cùng và không ai có thể ban cho chúng ta được ngoài một mình Chúa. Để  tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn Chúa, người Kitô hữu chúng ta dành ngày Chúa nhật để thờ phượng, chúc tụng, tạ ơn và tôn vinh Chúa. Trong thực tế, rất nhiều người kitô hữu ngày nay không còn dành ngày Chúa nhật cho Chúa nữa : họ dễ dàng bỏ lễ, đi lễ thì đứng ngoài, nói chuyện, hút thuốc;một số khác thì dành ngày Chúa nhật để ăn chơi sa đọa…Vì thế, giờ đây chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện cho mình và người khác luôn biết sống ngày Chúa nhật cách thật nghiêm túc.

2/ Lời nguyện .

     Lạy Chúa, Thánh lễ mà con Chúa là Chúa Giêsu Kitô truyền cho chúng con cử hành trong bữa tiệc ly là trọng tâm của ngày Chúa nhật, ngày con Chúa sống lại từ cõi chết. Xin cho chúng con biết quý trọng việc tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật để chúng con bầy tỏ lòng tôn thờ, cảm tạ Chúa, tuyên xưng quyền năng sáng tạo của Chúa, nói lên quyết tâm thuộc trọn về Chúa, nhất là đón nhận sức sống phục sinh của Chúa Kitô con Chúa, để cũng như Ngài, chúng con sẽ sống yêu thương, quảng đại với mọi người. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, con Chúa, Chúa chúng con. Amen.

VI.  SINH HOẠT: * Băng reo:   Ngày của Chúa:

Người điều khiển
Tất cả
Ngày của Chúa
Dành cho Chúa
Ngày của Chúa
Dành cho tôi
Ngày của Chúa
Dành cho bạn
Ngày của Chúa
Cho mọi người
Ngày của Chúa
Thật là vui, la la la!  ( vỗ tay )


VII. BÀI TẬP

     Em hãy cho biết các bạn sau đây, bạn nào sống đúng bạn nào sống không đúng trong ngày của Chúa.

1. Bạn A, mải chơi điện tử quên cả giờ dự lễ .

2. Bạn B, tham dự Thánh lễ, rồi đến nhà ông bà chơi, thăm ông bà.

3. Bạn C, không đi lễ được vì bị ốm, nhưng bạn ấy đã lần hạt để bù lại.

VIII.  SỐNG LỜI CHÚA 

     Thánh lễ là trọng tâm của ngày Chúa nhật. Vì thế, vào ngày Chúa nhật tuần này em quyết tâm đi lễ và chuẩn bị để tham dự thánh lễ cách nghiêm túc qua việc : đánh răng, rửa mặt, mặc quần áo cách sớm sủa để khi nghe chuông hiệu, em đến nhà thờ ngay. Trên đường đến nhà thờ, em hướng tâm hồn về Chúa mà em sắp gặp Ngài trong thánh lễ. Đến nhà thờ, em vào nhà thờ ngay. Trong thánh lễ, em quyết không nói chuyện, nhưng cùng hát và thưa kinh với mọi người. Sau khi rước lễ, em sẽ cầu nguyện cám ơn Chúa và xin Chúa giúp em sống mỗi ngày mỗi tốt hơn. Em chỉ ra khỏi nhà thờ sau khi hát xong bài hát cuối lễ.

IX.  CẦU NGUYỆN  KẾT THÚC

     Lạy Chúa Giêsu, chúng con cám ơn Chúa vì Chúa đã soi sáng cho chúng con hiểu được  ý nghĩa cao quý của ngày Chúa nhật trong giờ học vừa qua. Xin cho mỗi người chúng con siêng năng tham dự thánh lễ, đặc biệt ngày lễ Chúa nhật và biết chuẩn bị tâm hồn tham dự thánh  lễ thật sốt sắng như chúng con vừa quyết tâm. Chúng con cầu xin, vì Chúa là Đấng hằng sống hằng trị muôn đời. Amen.

Đọc kinh Sáng Danh.

Trở về trang Mục Lục: Giáo án Lớp Thêm Sức 1 - Căn Bản I
Bài 29:  Điều  Răn  Thứ  Nhất (2)  THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA

Bài 29: Điều Răn Thứ Nhất (2) THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA

Bài 29 :
Điều Răn Thứ  Nhất (2)
THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA

- Lời Chúa:  Mt. 4, 10

- Ý chính:  Thờ phượng Thiên Chúa là  thái độ suy phục tuyệt đối của thụ tạo đối với Đấng sáng tạo. 

- Giáo cụ trực quan:   Tranh: Chúa Giêsu chịu cám dỗ (Số 60).

I. CẦU NGUYỆN ĐẦU GIỜ

     Lạy Chúa Giêsu, hôm nay chúng con tiếp tục học về Giới răn thứ nhất: Thờ phượng Thiên Chúa. Xin giúp chúng con hiểu được cách thức thờ phượng Thiên Chúa trong giờ học này để chúng con luôn là người con ngoan của Chúa Cha như Chúa. Chúng con xin dâng giờ học này cho Chúa. 

Đọc kinh Cúi xin Chúa sáng soi.

II.  DẪN VÀO LỜI CHÚA 

1. Ôn bài cũ và kiểm tra điều đã quyết tâm.

+ Ôn bài cũ:

- Điều răn thứ nhất dạy chỉ tôn thờ ai? (Chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa).

- Chúng ta phải biểu lộ việc tôn thờ Thiên Chúa bằng các nhân đức nào? (Ba nhân đức : Tin, Cậy, Mến).

- Hãy kể ra 2 tội phạm đến đức tin? [1, Chểnh mảng không chịu tìm hiểu các chân lý mặc khải (như không học Giáo lý)-2, Chối bỏ các chân lý ấy trở thành rối đạo, bỏ đạo, ly khai khỏi Hội Thánh].

+ Kiểm tra quyết tâm:

Các em đã thuộc 3 kinh Tin, Cậy, Mến chưa? Các em cùng đọc.

1. Dẫn vào Lời Chúa.

 Ngày ấy, có một vị thủ tướng nước Anh bị tống ngục, vì không chịu bỏ đạo. Sau đó ông bị kết án tử hình, người vợ đến thăm và hỏi :

-  Tại sao anh không tự lo cứu lấy mình ?

-  Này em theo như em nghĩ thì anh còn sống được ở trần gian này được bao lâu nữa ? 

-  Với sức khoẻ của anh hiện nay hứa hẹn ít nhất là 20 năm nữa.

-  Em đề nghị cho anh một hành động hết sức điên dại, vì để sống thêm 20 năm nữa mà chối bỏ Chúa để rồi mất đi sự sống đời đời, thật là uổng phí !

     Ông thủ tướng ấy đã chọn Thiên Chúa. Và để tôn thờ một mình Ngài, ông đã từ bỏ tất cả ngay cả mạng sống của mình. Mời các em đứng lên lắng nghe Lời Chúa nói về điều này.

III. CÔNG BỐ LỜI CHÚA

Mt . 4, 10

IV. GIẢI THÍCH LỜI CHÚA

1/ Dẫn giải Lời Chúa.

- Lời Chúa theo Thánh Matthêu  mà các em vừa nghe được viết lại lời của ai nói?  (Lời do chính Chúa Giêsu nói).

- Ngài đã nói gì? (Hãy thờ phượng một mình Thiên Chúa).

- Ngài nói với ai? (Nói với Satan, kẻ đang cám dỗ Ngài sấp mình thờ lạy nó thì nó sẽ ban cho Ngài tất cả của cải, vinh hoa thế gian).

- Như thế Chúa Giêsu đã thắng hay thua Satan? (Thắng, vì Chúa không thờ lạy nó mà chỉ thờ lạy một mình Thiên Chúa, Cha của Ngài mà thôi).

Để hiểu rõ hơn về sự chiến thắng các cơn cám dỗ của Chúa Giêsu, các em hãy nhìn lên bức tranh này (Số 60).

- Chỗ Chúa Giêsu đang đứng có đồi núi, cát, đá. Các em có biết vùng này là vùng gì không? (Sa mạc).

- Dưới chân Chúa Giêsu có những hòn gì đây? (Hòn đá).

- Chúa Giêsu đang ở trong sa mạc, dưới chân Ngài là những hòn đá. Các em có nghĩ  ra bức tranh này vẽ lại biến cố gì không? (Chúa chịu ma quỷ cám dỗ).

- Việc này xẩy ra vào lúc nào? (Việc này xảy ra sau khi Chúa chịu phép rửa ở sông Gio-đan).

     Đúng. Sau khi chịu phép rửa ở sông Gio-đan, Chúa Giêsu vào sa mạc 40 ngày để cầu nguyện, chuẩn bị đi rao giảng Tin Mừng. Khi chịu phép rửa là Chúa Giêsu muốn cho ta biết cách thế cứu loài người của Ngài là cách thế yêu thương: mang lấy tội của nhân loại để chịu chết trên thập giá đền tội thay cho nhân loại. Đây cũng là cách thế Chúa Cha muốn. Ma quỷ cám dỗ Ngài đừng theo ý Chúa Cha muốn là cứu loài người bằng con đường yêu thương nhưng dùng quyền lực để cứu loài người. Do đó, ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu dùng quyền lực biến những cục đá thành bánh mà ăn. Chúa Giêsu không chịu, nó đã dẫn Chúa lên núi cao, nó chỉ cho Chúa thấy tất cả của cải, vinh quang trần gian, rồi nói với Chúa nếu Chúa thờ lạy nó thì nó sẽ cho Chúa tất cả những thứ vinh quang đó.

- Chúa Giêsu có nghe lời ma quỷ không? (Không).

- Chúa đã nói với ma quỷ thế nào? Em nào có thể nhắc lại? (Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi).

Chúng ta sẽ tìm hiểu về việc thờ phượng Thiên Chúa trong phần bài học dưới đây.

2/ Giải thích câu hỏi thưa .

Câu 1: Ta phải thờ phượng Thiên Chúa thế  nào?

- Ai dựng nên trời đất muôn vật? (Thiên Chúa).

- Ai cứu chúng ta khỏi phải chết? (Thiên Chúa).

- Như thế có ai cao cả, quyền uy và giầu tình thương hơn Thiên Chúa không? (Không).

Việc nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng cao cả nhất, quyền uy nhất, thương ta nhất và tỏ lòng tùng phục Ngài chính là thờ phượng Ngài.

- Như thế, ta phải thờ phượng Thiên Chúa thế nào? (Nhìn nhận Ngài là Đấng cao cả, đem hết lòng thành tùng phục, tôn thờ, chúc tụng, cảm tạ Ngài).

Đọc chung câu 1.

Câu 2: Trong các việc thờ phượng, việc nào hoàn hảo nhất ?

- Việc thờ phượng Thiên Chúa cần phát xuất từ  tâm hồn, nghĩa là từ  tâm tình yêu mến, suy phục của ta đối với Chúa. Nhưng chúng ta không chỉ có hồn mà còn có xác . Hơn nữa, chúng ta còn sống trong một cộng đoàn. Vì thế việc thờ phượng Thiên Chúa được biểu lộ bằng nhiều cách như cầu nguyện, thờ lạy, dâng lễ, thánh hóa các ngày lễ…

Vậy trong các việc thờ phượng này, việc nào hoàn hảo nhất?

Để trả lời câu hỏi này, các em cần tìm hiểu thêm một vài điểm sau đây.

- Khi người ta yêu mến, thán phục ai, coi ai đó là ân nhân thì người ta thường làm gì với người đó? (Thường người ta biếu, tặng, dâng cho người đó một lễ vật gì đó hoặc hy sinh một điều gì mình thích để tỏ lòng biết ơn, cảm tạ, yêu mến).

- Trong câu 1, chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa là Đấng toàn năng, là Đấng giầu lòng thương xót đã dựng nên ta, cứu chuộc ta. Ngài là Chủ tuyệt đối của ta, mọi cái ta có là do bởi Ngài. Vậy để tỏ lòng thờ phượng Ngài ta phải làm gì? (Dâng lên Ngài điều gì mình quý nhất).

- Điều quý nhất của ta là gì? (Là sự sống của ta).

- Trong việc thờ phượng Thiên Chúa, việc thờ phượng nào ta có thể dâng lên Chúa sự sống của ta? (Thánh Lễ).

- Tại sao ta có thể dâng sự sống ta cho Chúa trong Thánh Lễ? (Vì Thánh lễ là cử hành việc Chúa Giêsu dâng mình làm lễ vật đền tội cho mọi người trên thập giá. Khi tham dự Thánh Lễ, ta kết hợp với Chúa Giêsu dâng chính mình, cuộc đời, tâm tình, cố gắng, lo âu, thành công, thất bại, tội lỗi…nghĩa là toàn bộ cuộc sống của ta lên Thiên Chúa. Đó là lễ vật riêng của mỗi người góp vào lễ vật chung là chính Chúa Giêsu).

- Vậy, Thánh Lễ có phải là việc thờ phượng hoàn hảo nhất không? (Phải, Thánh Lễ là tột đỉnh của việc thờ phượng vì trong Thánh Lễ, chính Chúa Giêsu chúc tụng, cảm tạ, thờ lạy Chúa Cha. Khi tham dự Thanh Lễ, chúng ta cũng được hiệp nhất với Ngài trong sự thờ phượng đó).

Đọc chung câu 2.

Câu 3: Để có thể nói lên quyết tâm thờ phượng Thiên Chúa hết lòng, ta có thể làm gì?

- Khi các em hứa với ai điều gì, các em đã làm gì để nói lên quyết tâm của mình sẽ làm điều đó và để cho người đó tin mình? (Thề hứa).

- Cũng vậy, để có thể nói lên quyết tâm thờ phượng Thiên Chúa hết lòng, ta có thể làm gì? (Khấn hứa với Chúa).

- Các em đã khấn hứa gì với Chúa chưa? (Rồi, khi chịu bí tích Rửa tội).

- Trong bí tích Rửa tội ta đã khấn hứa với Chúa điều gì? (Ta khấn hứa với Chúa là sẽ từ bỏ ma quỷ, tội lỗi và tin vào Chúa, sống đời sống của con cái Chúa).

- Ta sẽ còn khấn hứa với Chúa khi nào nữa không? (Có, khi ta chịu bí tích Thêm sức, hoặc bí tích Hôn Phối nếu ta lập gia đình, hoặc bí tích Truyền chức Thánh nếu các em trai đi tu làm linh mục, hoặc khấn dòng nếu các em nữ đi tu làm tu sĩ).

Đọc chung câu 3.

Câu 4: Quyền tự do tôn giáo là gì ? (Giáo lý viên giải thích lướt qua và cho các em đọc chung).

     Mỗi con người tự nhiên ai cũng khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa. Và nơi mỗi người đều có một cảm nghiệm nào đó về Thiên Chúa. Từ cảm nghiệm này mà họ đi đến thờ phượng, yêu mến, tôn sùng. Quyền được bày tỏ niềm tin đó là quyền tự do tín ngưỡng của con người. Do đó xã hội cần phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của họ, giúp họ, tạo điều kiện để họ thực hiện quyền tự do này.

Đọc chung câu 4

Câu 5: Có những tội nào nghịch điều răn thứ nhất?

Những tội sau đây nghịch điều răn thứ nhất :

- Thờ các loại thụ tạo như thờ sông, núi, mặt trời, thú vật hay con người.

- Mê tín dị đoan.

- Bói toán ma thuật : đi coi bói, lên đồng…

- Cố tình thử thách Thiên Chúa.

- Phạm sự thánh : Xúc phạm đến người, nơi, vật dụng đã được thánh hiến cho Thiên Chúa như xúc phạm đến người có chức thánh, các bí tích, nhà thờ…

- Buôn thần bán thánh

- Chối bỏ Thiên Chúa

-          Chủ trương không muốn biết gì về Thiên Chúa.

         Đọc chung câu 5

Câu 6 : Ta nên sử dụng ảnh tượng thế nào cho hợp với điều răn thứ nhất?

- Ở nhà thờ, ở gia đình, các em có thấy ảnh tượng của Chúa Giêsu, Mẹ Maria, các thánh không? (Có).

- Trong việc cầu nguyện, các em có cảm thấy dễ cầu nguyện khi nhìn lên các ảnh tượng hơn là khi không có ảnh tượng không? (Có, nhìn lên ảnh tượng dễ cầu nguyện hơn).

     Đúng, theo tâm lý tự nhiên, chúng ta dễ tin vào những gì chúng ta có thể nhìn thấy được hơn là những gì vô hình. Thông cảm với tâm lý tự nhiên của chúng ta, Giáo hội sử dụng ảnh tượng để giúp ta có hình ảnh sống động về Chúa Giêsu, Đấng chúng ta thờ phượng và về các thánh mà chúng ta tôn kính để dễ nghĩ đến các Ngài hơn. Nhưng Giáo Hội nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không đuợc dừng lại ở các ảnh tượng nhưng qua các ảnh tượng chúng ta hướng về chính Đấng mà ảnh tượng đó biểu thị. Tuy nhiên, Giáo Hội cũng nhắc nhở thêm rằng việc trưng bầy, sùng kính ảnh tượng cần hợp lý, đúng mức, đơn giản.

Đọc chung câu 6

Tóm lại, bài học hôm nay chỉ cho chúng ta cách thế hoàn hảo nhất để thờ phượng Thiên Chúa là cử hành Thánh Lễ.

V. CẦU NGUYỆN GIỮA GIỜ

1/ Gợi tâm tình.

Các em thân mến,

     Mỗi người chúng ta đều biết rõ rằng chính Thiên Chúa đã tạo dựng và cứu chuộc chúng ta nên, theo lẽ công bằng, chúng ta có bổn phận  phải thờ phượng Ngài. Thờ phượng Chúa là thái độ suy phục tuyệt đối của chúng ta đối với Thiên Chúa. Lòng suy phục này cần được tỏ lộ ra bên ngoài qua việc chuyên chăm cầu nguyện, tham dự các Bí tích, nhất là Thánh Lễ, tuân giữ các lề luật Thiên Chúa dậy …Tuy nhiên chúng ta vốn yếu đuối và lười biếng, nên để có thể chu toàn bổn phận thờ phượng, chúng ta cần rất nhiều ơn Chúa. Vì thế, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.

2/ Lời nguyện.

     Lạy Thiên Chúa  là Cha của chúng con, nhờ vào tình yêu của Chúa mà chúng con có mặt ở đời này, là một tạo vật cao quý nhất trong muôn loài, được gọi Thiên Chúa là Cha, được sống đời đời. Xin cho chúng con chỉ biết thờ phượng một mình Chúa, suy phục và ca tụng Chúa suốt đời, để một ngày nào đó chúng con lại được trở về trong vòng tay yêu thương của Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen .

VI . SINH HOẠT- Băng reo: Tin vào Chúa:

Người điều khiển
Tất cả
Tin vào Chúa
Sẽ được sống ( đưa tay phải nhanh, mạnh lên trời )
Ai không tin
Sẽ phải chết ( run run người từ từ ngồi xuống )
Ai vững tin
Em!  Em!  Em!  (Đứng phắt dậy đưa tay phải thụt lên thụt xuống)

VII. BÀI TẬP - Em hãy trả lời hai câu hỏi sau đây:

1. Vì sao em phải thờ phượng Thiên Chúa ? ( Vì Thiên Chúa  đã dựng nên em và cứu chuộc em).

2. Em phải thờ phượng Thiên Chúa thế nào?  (Suy phục, tôn thờ, tạ ơn, dành chỗ nhất cho Thiên Chúa  trong tâm hồn em).

VIII. SỐNG LỜI CHÚA

     Chúng ta đã học biết rằng việc thờ phượng Thiên Chúa hoàn hảo nhất là tham dự Thánh lễ. Do đó, tuần này em quyết tâm, ngoài Thánh lễ chủ nhật, sẽ tham dự  thêm một Thánh lễ ngày thường nữa.

IX. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC

     Lạy Chúa Giêsu, trong Thánh lễ, Chúa đã đại diện toàn thể nhân loại dâng mình để tạ ơn Chúa Cha. Xin Chúa giúp chúng con, tuần này biết tham dự Thánh lễ thật  sốt sắng để kết hợp với Chúa dâng lời tạ ơn Chúa Cha đã tạo dựng và cứu chuộc chúng con. . Chúng con cầu xin  Chúa là Đấng hằng sống hằng trị muôn đời. Amen

Đọc kinh Sáng danh .


Trở về trang Mục Lục: Giáo án Lớp Thêm Sức 1 - Căn Bản I