Hiển thị các bài đăng có nhãn Giám Mục Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giám Mục Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Tiểu Sử Đức Giám Mục Phaolô Huỳnh Đông Các

Phaolô Huỳnh Đông Các (1923 – 2000) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma người Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa của Giáo phận Qui Nhơn. Khẩu hiệu giám mục của ông là "Hòa bình Chúa Kitô trong vương quốc Ngài".

 Ông sinh tại Quy Nhơn, lên 12 tuổi bắt đầu con đường tu học tại các chủng viện Công giáo khác nhau. Sau 10 năm tu học và 10 năm gián đoạn, Huỳnh Đông Các nhận chức linh mục năm 1955. Sau khi trở thành linh mục, ông được cử đi du học Rôma năm 1956 và trở thành Tiến sĩ Giáo luật năm 1959. Sau đó, linh mục Các tiếp tục du học Anh và Mỹ, đồng thời tốt nghiệp thêm hai văn bằng là Cao học Văn chương Anh và Tiến sĩ Ngự học Anh. Về nước năm 1967, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Tiểu chủng viện Qui Nhơn.

 Tòa Thánh bổ nhiệm Huỳnh Đông Các làm giám mục chính tòa Qui Nhơn năm 1974. Ông đảm nhiệm vai trò này cho đến năm 1999, khi hồi hưu. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh từ năm 1980 đến năm 1986 và Phó Chủ tịch Hội đồng nhiệm kỳ 1992 – 1995.

 Thân thế và tu tập

 Huỳnh Đông Các sinh ngày 3 tháng 5 năm 1923 tại Gò Dài, Gò Thị, Quy Nhơn (nay thuộc xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Ông bắt đầu con đường tu học bằng việc gia nhập tiểu chủng viện Làng Sông, Quy Nhơn và cậu đã học tại đây từ năm 1935 đến năm 1943. Sau khi hoàn thành việc học tại Tiểu chủng viện, chủng sinh Các tiếp tục hành trình tu trì bằng việc học hai môn Triết và Thần học tại Ðại Chủng viện Qui Nhơn (vì chiến tranh được dời về Làng Sông) trong ba năm từ năm 1943 đến năm 1945.

 Linh mục

 Ngày 17 tháng 5 năm 1955, Phó tế Phaolô Huỳnh Đông Các được thụ phong linh mục tại Nhà thờ chính tòa Nha Trang với chủ phong là Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang là Giám mục Marcel Piquet Lợi. Sau khi được chịu chức linh mục, giám mục Lợi cử tân linh mục Phaolô về làm linh mục chánh xứ giáo xứ Tịnh Sơn, thuộc tỉnh Phú Yên. Một năm sau đó, năm 1956, giám mục giáo phận quyết định cử Linh mục Huỳnh Đông Các đi du học Rôma, tại Viện Ðại học Truyền Bá Ðức Tin và ông đã đậu Tiến sĩ Giáo Luật năm 1959. Sau đó, linh mục Các tiếp tục được cử đi du học tại Anh và Mỹ cho đến năm 1966, và ông đậu các văn bằng Cao học Văn chương Anh, Tiến sĩ Ngữ học Anh. Sang năm 1967, ông trở về nước và được chọn làm Giám đốc Tiểu Chủng viện Qui Nhơn đến năm 1974.

 Giám mục

 Ngày 2 tháng 7 năm 1974, Giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố bổ nhiệm linh mục Phaolô Huỳnh Đông Các, Giám đốc tiểu chủng viện Qui Nhơn làm Giám mục chính tòa Giáo phận Qui Nhơn. Ngày 15 tháng 8 năm 1974, lễ tấn phong Giám mục cho vị tân chức Huỳnh Đông Các do Hồng y Agnelo Rossi, Tổng trưởng Thánh Bộ Phúc Âm Hóa Muôn Dân nước (Bộ Truyền giáo) chủ phong, tại Vương cung Thánh đường Sài Gòn. Hai vị phụ phong trong nghi thức truyền chức là Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Sài Gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình và Tổng giám mục Philípphê Nguyễn Kim Điền – Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế.

 Hội đồng Giám mục Việt Nam thiết lập năm 1980, giám mục Các được chọn làm Chủ tịch Tiên khởi của Uỷ ban Linh mục, Tu sĩ và Chủng sinh. Ông giữ chức vụ này trong hai nhiệm kỳ, từ năm 1980 đến năm 1986. Năm 1992, ông được chọn làm Phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến năm 1995. Ngày 5 tháng 7 năm 1999, Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết thư mừng ngân khánh giám mục của Huỳnh Đông Các. Ngày 11 tháng 8 năm 1999, ông mừng ngân khánh giám mục và công bố việc nghỉ hưu.

 Ngày 3 tháng 6 năm 2000, giám mục Huỳnh Đông Các qua đời tại bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, lúc 8 giờ 40 phút, hưởng thọ 77 tuổi.

 Nhận xét

 Trong thư Giáo hoàng Gioan Phaolô II gửi đến giám mục Huỳnh Đông Các, giáo hoàng viết:

 Tôi biết rõ thời gian lâu dài thi hành tác vụ mà chư huynh đã trải qua cho đến hôm nay với lòng hăng say của một đức tin sốt mến, một sự tận tâm cao cả, và một ý thức ngay thẳng và tỉnh thức. Tôi xin đặc biệt nhắc đến tinh thần đi kèm với đời sống chư huynh: với bằng tiến sĩ triết học và giáo luật và sau khi được thụ phong linh mục, chư huynh đã chăm sóc trước hết cho các chủng sinh của giáo phận Qui Nhơn. Hơn nữa với lòng đạo đức vững chắc và sự hăng say vì phần rỗi các linh hồn, chư huynh đã thi hành tác vụ mục vụ cho nhiều nhóm tín hữu khác nhau.
Vào năm 1974. Vị tiền nhiệm của Tôi, Ðức Phaolô VI đáng ghi nhớ đã chọn Chư Huynh, với những tài năng kể trên và khác nữa, vào số những người kế vị các Tông Ðồ. Tôi biết rõ tác vụ mục vụ của chư huynh không phải là không gặp những khó khăn đi kèm, nhưng chư huynh đã chú tâm làm việc không ngừng, để giúp các tín hữu được trao phó cho, để canh tân họ nhờ qua các bí tích, và chăm sóc họ với hết quan tâm. Tôi biết chắc chư huynh tin tưởng vào Lời Chúa, như thánh tông đồ Phêrô ngày xưa, và đã trung thành thả lưới.
Tông truyền

 Giám mục Phaolô Huỳnh Đông Các được tấn phong giám mục năm 1974, dưới thời Giáo hoàng Phaolô VI, bởi:

 Chủ phong: Hồng y Agnelo Rossi, Tổng trưởng Thánh Bộ Phúc Âm Hóa Muôn Dân nước (Bộ Truyền giáo)
Hai vị Phụ phong: Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Sài Gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình và Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Huế Philípphê Nguyễn Kim Điền.

 Giám mục Phaolô Huỳnh Đông Các là Chủ phong trong nghi thức truyền chức giám mục cho giám mục:

 Năm 1976, Giuse Phan Văn Hoa, hiện đang là cố Giám mục phó Giáo phận Qui Nhơn.

 Giám mục Phaolô Huỳnh Đông Các là giám mục Phụ phong giám mục cho các giám mục:

 Năm 1997, Giuse Nguyễn Tích Đức, hiện đang là cố Giám mục chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột.
Năm 1999, Phêrô Nguyễn Soạn, hiện đang là nguyên Giám mục chính tòa Giáo phận Qui Nhơn.
Trở về trang danh sách:


Giám Mục Giuse Maria Đinh Bỉnh

✠ Giuse Maria Đinh Bỉnh (1922 – 1989) là một giám mục của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, nguyên là Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình trong khoảng thời gian từ năm 1982 đến năm 1989. Ông là giám mục chính tòa thứ hai của giáo phận này, kế vị giám mục Tiên khởi Đa Minh Đinh Đức Trụ.

✠ Ông sinh tại Nam Định, từ nhỏ đã đi theo con đường tu trì, học tại các chủng viện Công giáo khác nhau. Sau khoảng thời gian dài tu học, ông được truyền chức linh mục tháng 7 năm 1960 và được bổ nhiệm quản lý một số xứ đạo trong giáo phận. Năm 1972, ông trở thành Giám đốc chủng viện Mỹ Đức.

✠ Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Đinh Bỉnh làm giám mục phó giáo phận Thái Bình cuối tháng 10 năm 1979 và nghi thức tấn phong cử hành đầu tháng 12 cùng năm. Năm 1982, ông chính thức chấp chính, quản lý giáo phận trên cương vị giám mục chính tòa giáo phận Thái Bình cho đến khi qua đời năm 1989.

✠ Con đường tu tập

✠ Giám mục Đinh Bỉnh sinh ngày 2 tháng 5 năm 1922 hoặc 9 tháng 3 năm 1920 tại xứ Phú Nhai, Xuân Phương, Xuân Trường, Nam Định. Học xong tiểu học, cậu bé Đinh Bỉnh gia nhập Tiểu chủng viện Ninh Cường (Bùi Chu) rồi vào Chủng viện Mỹ Đức (Thái Bình), sau đó chuyển sang Đại chủng viện Albert Nam Định do Dòng Anh Em Thuyết Giáo thành lập. Từ năm 1942, cậu dạy trường Kẻ giảng Hưng Yên của Giáo phận Thái Bình cho đến năm 1945 khi được phân công đi hỗ trợ mục vụ các giáo xứ Đồng Quan (Kiến Xương), Bác Trạch (Tiền Hải), Thanh Châu (Tiền Hải). Trong thời kỳ tu tập, ông học Thần học và Lý đoán tại Đại chủng viện thánh Alberto Nam Định.

✠ Năm 1956, linh mục Đinh Đức Trụ được cử làm Giám quản Địa phận thay mặt Giám mục Santos Ubierna Ninh phải di cư vào miền Nam sau Hiệp định Genève, 1954 rồi qua đời tại Sài Gòn năm 1955. Linh mục Đinh Đức Trụ mời Đinh Bỉnh về hợp tác tái khôi phục Chủng viện Mỹ Đức bị hư hại và ngưng trệ sinh hoạt sau chiến tranh. Chủng viện này được Giám mục Santos Ubierna Ninh xây dựng lại và khánh thành vào cuối tháng 8 năm 1937 và đặt tên là Chủng viện thánh Thomas Mỹ Đức, một tòa nhà ba tầng, rộng 13 mét, dài 90 mét nằm bên bờ sông Trà Lý thuộc xã Cát Đàm, Thái Bình. Chủng sinh Đinh Bỉnh vừa là Hiệu trưởng vừa là giáo sư chính của Chủng viện.

✠ Tuy bận rộn với công tác ở chủng viện Mỹ Đức, Đinh Bỉnh vẫn tranh thủ thời gian nghiên cứu học tập môn thần học để chuẩn bị thụ phong Linh mục.

✠ Linh mục

✠ Ngày 16 tháng 7 năm 1960, Đinh Bỉnh được phong chức linh mục. Một số nguồn dẫn cho rằng ông được truyền chức ngày 10 tháng 6 năm 1960. Cũng trong buổi lễ truyền chức này còn có 3 tân linh mục là Giuse Võ Văn Vân, Joakim Trần Trọng Uyên và Giuse Bùi Văn Cẩm.

✠ Sau khi được truyền chức, Đinh Bỉnh được bổ nhiệm giữ chức linh mục quản xứ Sa Cát và Cát Đàm (Thị xã Thái Bình) cho đến năm 1972, khi được bổ nhiệm làm Giám đốc Chủng viện Mỹ Đức đồng thời phụ trách mục vụ các xứ: Sa Cát, Phương Xá và nhiều xứ đạo khác.

✠ Giám mục

✠ Ngày 30 tháng 10 năm 1979, Giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Đinh Bỉnh làm Giám mục phó Giáo phận Thái Bình. Lễ tấn phong cho vị giám mục Tân cử được cử hành sau đó vào ngày 8 tháng 12 năm 1979 với phần nghi thức truyền chức cử hành bởi chủ phong là Hồng y – Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn tại Nhà thờ chính tòa Thái Bình. Hai vị phụ phong trong nghi thức truyền chức là giám mục Thái Bình Đa Minh Đinh Đức Trụ và giám mục Giáo phận Hải Phòng Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương. Giám mục Bỉnh muốn trông đợi sự hỗ trợ của Đức Mẹ cho giáo phận và chính bản thân ông, nên đã chọn khẩu hiệu: “Này là Mẹ con” (Ecce Mater tua).

✠ Trong thời kỳ giám mục của mình, Đinh Bỉnh xuất ngoại một lần vào năm 1980, thay mặt giám mục Đa Minh Đinh Đức Trụ sang Roma viếng mộ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô như luật định của Toà Thánh.

✠ Ngày 7 tháng 6 năm 1982, giám mục Đa Minh Đinh Đức Trụ qua đời, ông kế nhiệm Giám mục chính tòa Thái Bình. Tiếp tục công việc của vị tiền nhiệm, ông ưu tiên cho việc đào tạo giáo sĩ và chăm sóc đời sống tinh thần cho giáo dân. Giáo dân đánh giá ông là một giám mục hiền lành, đơn sơ, lấy đức Ái làm phương châm cuộc sống nên gọi ông bằng biệt danh “Hòa Bình”. Cũng trong thời gian quản lý giáo phận, ông tiếp tục các hoạt động ổn định và phát triển giáo phận Thái Bình củng cố đức tin, tổ chức truyền giáo, mở rộng các hoạt động của tổ chức giáo hội địa phương. Để đến thăm mục vụ các giáo dân, ông thường đi xe đạp đến gần 10 giáo xứ để cử hành lễ.

✠ Trong suốt thời gian làm giám mục, Đinh Bỉnh góp công sức cho việc đào tạo linh mục cho giáo phận với việc khôi phục Chủng viện Mỹ Đức, khai giảng lớp 16 đại chủng sinh khóa 1972 – 1977. Có 4 chủng sinh được truyền chức linh mục: Giuse Nguyễn Văn Ban, Tôma Trần Trung Hà, Vincentê Mai Thành Sơn, Đa Minh Trịnh Đức Tính. Năm 1989, ông gửi lớp sinh viên khóa 6 ra học Đại chủng viện Hà Nội.

✠ Giám mục Đinh Bỉnh qua đời vào lúc 4 giờ sáng ngày 14 tháng 3 năm 1989 sau cơn nhồi máu cơ tim. Ông thọ 67 tuổi, với 29 năm linh mục và 11 năm giám mục. Sau khi giám mục Bỉnh qua đời, Tòa Thánh đặt Hồng y Giuse Trịnh Văn Căn làm Giám quản Tông Tòa giáo phận Thái Bình trong cùng ngày.

✠ Đánh giá

✠ Linh mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Hoàng đưa ra đánh giá về giám mục Đinh Bỉnh:

✠ “ Đức cha Giuse là một người vui vẻ, lạc quan; là một tông đồ của Đức Mẹ vì Ngài có lòng yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt; là một mục tử nhiệt thành với sứ mạng chăm sóc đoàn chiên giáo phận được Chúa trao phó và gần gũi thân thiện với mọi người. Quả thật ngài là mẫu gương sáng cho đoàn chiên giáo phận Thái Bình về rất nhiều mặt. ”

 Tông truyền

✠ Giám mục Giuse Maria Đinh Bỉnh được tấn phong giám mục năm 1979, thời Giáo hoàng Gioan Phaolô II, bởi:

✠ Chủ phong: Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Hà Nội.
Hai vị Phụ phong: Đa Minh Đinh Đức Trụ, giám mục chính tòa giáo phận Thái Bình và Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương, giám mục chính tòa Giáo phận Hải Phòng.


Trở về trang danh sách:

Tiểu sử Ðức Cố Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình

Ðức Cố Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình
Nguyên Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Sài Gòn
Khẩu Hiệu: "Hãy Ði Rao Giảng"
✠ 1/09/1910   Sinh Tại Thành Phố Saigon
✠ 27/03/1937 Thụ phong Linh Mục Giáo phận
✠ 20/09/1955  Ðược bổ nhiệm Giám Mục phụ tá, cai quản Giáo Phận Cần Thơ
✠ 30/11/1955  Thụ phong Giám Mục Giám Mục phụ tá, cai quản Giáo Phận Cần Thơ
✠ 24/11/1960  Ðược bổ nhiệm Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Thành Phố Saigon, Việt Nam
✠ 01/07/1995  Qua đời
✠ (Saigon, Việt Nam - 30/06/2005) - Cách đây mười năm, ngày Ðức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình về Nhà Cha (1.7.1995), chúng tôi còn đang là đại chủng sinh của Chủng viện thánh Giuse thành phố Saigon. Ðại Chủng viện rất vinh dự được Ðức Tổng chọn làm nơi an dưỡng trong những năm cuối đời. Ðặc biệt hơn, sau khi tạ thế, Ðức Tổng còn gởi lại thân xác của mình trong nhà nguyện Ðại Chủng viện. Những kỷ niệm mà Ðức Tổng để lại trong thời gian an dưỡng tại Ðại Chủng viện, dù đã mười năm qua, chúng tôi vẫn còn nhớ như in. Chúng tôi muốn ghi lại những kỷ niệm ấy như một lá thơ gởi đến Người Cha Chung của giáo phận sau mười năm xa cách. Ðó cũng là tâm tình biết ơn dâng kính Ðức Tổng mà mỗi chủng sinh ngày ấy, và linh mục hôm nay, muốn thể hiện.
✠ Cuộc chia tay nào cũng để lại sự bùi ngùi tiếc nhớ. Cha ra đi để lại nơi mỗi chúng con niềm thương nhớ lớn lao.
Mỗi lần có dịp về thăm mái nhà Chủng viện, chúng con như còn thấy đâu đây những dấu vết của người cha khả kính. Bởi vậy mà niềm thương nhớ của chúng con sâu lắng và da diết hơn.
✠ Chúng con nhớ, hồi sức khỏe cha còn khá, dù bận rộn với nhiều công việc của giáo phận, cha đã không ít lần đến thăm chúng con. Giữa cuộc sống đầy bon chen vụ lợi, cha dạy chúng con: "Các anh phải biết yêu thương chân thành". Trong lòng cuộc sống đó, mỗi người đều có những ngày vui, những ngày hạnh phúc, hay những ngày đau khổ, những ngày bất an, cha dạy chúng con "Các anh phải cầu nguyện, các anh phải thấy cuộc đời mình thuộc về Chúa".
✠ Sau này, khi sức khỏe trở nên yếu nhiều, nhất là sau những cơn đau ngặt nghèo, cha thường ra Vũng Tàu nghỉ ngơi. Sau những lần trở về thánh phố, vào những buổi chiều, khi sức khỏe khá hơn, cha đều vào thăm chúng con. Có khi là những giờ giải trí, cha ngồi nhìn chúng con chơi thể thao. Vốn là người yêu thích thể thao, Cha như vui lây với chúng con trong từng đường banh, từng cú đập bóng chuyền vừa mạnh vừa dứt khoát của chúng con. Có khi cha vào thăm chúng con qua những lần huấn đức, hay những buổi chuyện trò...
✠ Chúng con còn nhớ rất rõ một trong những lần huấn đức ấy. Ðó là chiều ngày 4.12.1993. Những lời căn dặn chân thành của một người cha, lời dạy nghiêm túc của một người thầy ngày ấy, rất cần cho đời sống linh mục của chúng con hôm nay, khiến chúng con nhớ mãi. Ngày hôm ấy, cha nêu lên cho chúng con hình ảnh thánh Gioan Tiền hô, người dọn đường của Chúa Cứu Thế. Ðể tiến đến chức linh mục, người chủng sinh phải "dọn đường" bằng tu rèn đạo đức, tri thức...
✠ Những chủng sinh của cha ngày ấy, bây giờ đã là linh mục, nhưng tất cả đều hiểu rằng, không chỉ chủng sinh mới "dọn đường". Người linh mục càng cần phải "dọn đường" nhiều hơn để luôn đánh thức mình, để đừng bao giờ ngủ vùi trong sự tự mãn, trong an phận mà không cần cố gắng, không cần làm giàu kinh nghiệm đạo đức, kinh nghiệm mục tử của mình.
✠ Cũng buổi chiều hôm ấy, cha còn dùng chính tấm gương mục tử của Chúa Giêsu để dạy chúng con: Người mục tử phải biết yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ đàn chiên. Con chiên nào lạc bầy, người mục tử nhân lành không những đi tìm chúng, nhưng khi tìm được rồi, còn vác chiên lên vai trở về trong niềm vui lớn lao (Lc 15, 5). Cha còn căn dặn chúng con dứt khoát không vướng víu với tiền bạc: "Một linh mục ham tiền không phải là mục tử tốt lành". Lời của cha còn đó, âm vang mãi trong lòng chúng con.
✠ Khoảng thời gian gần hai năm cuối đời, vì biết sức khỏe mình đã yếu, cha vào ở hẳn trong Ðại Chủng viện để được gần gũi với chúng con. Chúng con không thể quên đêm 24.12.1994, trước khi cử hành thánh lễ mừng Chúa Giáng sinh, cha ngồi trên xe lăn và chúng con đưa cha đi xem hang đá, xem cách trang hoàng chủng viện của chúng con. Và trong giờ canh thức Giáng sinh, chính cha đã ban huấn từ khai mạc.
✠ Chúng con nhớ mãi ngày hội thao chào mừng lễ thánh Cả Giuse, bổn mạng Chủng viện, 20.3.1995, do chính tay cha cắt băng khai mạc.
Sáu ngày sau đó, 26.3.1995, chúng con lại kéo nhau đến chúc mừng tuổi linh mục của cha tròn 58 năm. Lần này cha chia sẻ với chúng con về tình yêu Thiên Chúa mà cha cảm nhận. Chính Chúa đã gìn giữ cha, đã dìu dắt cha suốt 58 năm trong sứ vụ tông đồ. Và cha kêu gọi chúng con cùng cảm tạ Chúa với cha.
Còn biết bao nhiêu kỷ niệm mà cha đã để lại nơi tâm hồn của mỗi chúng con. Chúng con nhớ từng nụ cười, nhớ từng lời nói, nhớ từng bước đi của cha. Chúng con, những chủng sinh ngày ấy, không quên những tiếng ho nặng nhọc của cha mỗi buổi sáng trên dãy hành lang vào nhà nguyện... Dù sức khỏe đã quá mỏi mòn, vậy mà ngày nào cha cũng dâng thánh lễ với chúng con. Sự hiện diện của cha trong nhà nguyện nhắc nhở chúng con về bổn phận đạo đức, về đời sống cầu nguyện mà mỗi chủng sinh và cả linh mục nữa, phải thủ đắc làm hành trang cho đời tu của mình.
✠ Chúng con vẫn biết cuộc ly biệt nào cũng để lại nơi lòng người ở lại những trống vắng và niềm tiếc thương. Sự ra đi của cha ngày ấy, đã làm rất nhiều trái tim rung cảm. Chúng con còn nhớ, trong lễ tang của cha, rất nhiều người đã xúc động và rơi lệ. Nhưng dẫu tiếc thương, người đời chỉ còn biết buông lời cảm thán: thế là hết! Nhưng chúng con cảm nhận rõ ràng chưa hết. Dù đã mười năm, sự hiện diện sinh động của cha như còn phảng phất đâu đây, trong tâm hồn của mỗi chúng con, những chủng sinh ngày ấy... Chúng con xin mượn cách nói của cha mà nói rằng, cha yêu nhất Chủng viện... Hình bóng của cha không phai mờ trong chúng con, bởi cha đã yêu chúng con trước, cha yêu nhất kia mà...
✠ Thực tế có đau lòng, nhưng trong niềm tin vững chắc vào sự sống đời sau, chúng con cảm nhận một niềm an ủi lớn lao: giờ đây cha đang yểm trợ Giáo Hội, đang bảo vệ đoàn chiên và đang cầu bàu cho chúng con. Chúa đã sai cha ra đi, và Chúa đã gọi cha trở về. Cha đã trung thành với ơn gọi, "đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin" (2 Tm 4, 7).
✠ Vâng, thưa cha, hạt lúa mì gieo vào lòng đất phải mục thối đi mới sinh nhiều hoa trái. Cha đã khuất. nhưng hoa trái của lòng tin do cha gieo vãi vẫn còn đó và lớn lên. Một lần nữa, nhân kỷ niệm mười năm cha xa cách chúng con, chúng con cúi mình kính chào cha. Mãi mãi chúng con thương nhớ cha, thương nhớ một người cha khả ái, vô cùng khả kính của chúng con. Xin tạm biệt cha. Hẹn gặp cha trên quê trời. Cha nhớ cầu nguyện cho chúng con với.
Tiểu Sử Ðức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình:
✠ Sinh ngày 1.9.1910 tại Sài Gòn.
✠ Thụ phong linh mục ngày 27.3.1937 tại Rôma.
✠ Tấn phong Giám mục ngày 30.11.1955 tại Sài Gòn.
✠ Bổ nhiệm Giám mục giáo phận Cần Thơ ngày 20.9.1955.
✠ Bổ nhiệm Giám mục giáo phận Sài Gòn ngày 24.11.1960.
✠ Từ trần ngày 01.7.1995 tại thành phố Saigon.
✠ (Ðại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn rất vinh dự được Ðức Tổng chọn làm nơi an dưỡng trong những năm cuối đời. Ðặc biệt hơn, sau khi tạ thế, Ðức Tổng còn gởi lại thân xác của mình trong nhà nguyện Ðại Chủng viện...)
Lm. Vũ Xuân Hạnh
Sau năm 1975, cũng như các chủng viện, các dòng tu tại Việt Nam, chủng viện thánh Giuse Sài Gòn cũng bị ngừng hoạt động. Rồi đến khi chủng viện thánh Giuse Sài Gòn được hoạt động trở lại, chúng tôi, lúc ấy là chủng sinh của một trong ba niên khóa đầu tiên của Chủng viện, được may mắn sống gần cận Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Sài Gòn trong nhiều năm, mãi cho đến ngày Đức Tổng về cùng Chúa (1.7.1995).
Chúng tôi còn nhớ rõ, kể từ mùa hè 1992, sức khỏe của Đức Tổng vốn đã yếu, đột nhiên suy yếu nhiều. Ở tuổi 82, không còn đủ sức chống chọi với bệnh tật, Đức Tổng đã nhiều lần vào ra bệnh viện. Ngoài nhà nghỉ tĩnh dưỡng Bãi Dâu, Vũng Tàu, có thể coi bệnh viện Thống Nhất là ngôi nhà tĩnh dưỡng thứ hai của Đức Tổng.
✠ Khoảng giữa tháng 8.1993, trong khi tất cả các chủng sinh còn đang nghỉ hè, thì chuyện bất ngờ xảy đến: Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình lâm trọng bệnh. Đức Tổng bị nhũn não, phải nằm liệt giường hơn một tháng tại bệnh viện Thống Nhất. Sau khi từ bệnh viện trở về Tòa Giám mục, tuy sức khỏe có hồi phục phần nào, nhưng Đức Tổng không thể làm việc được nữa. Kể từ đó, ✠ Tòa Thánh bổ nhiệm Đức Cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Phan Thiết làm Giám quản Tông tòa Tổng giáo phận Sài Gòn. Đối với Đức Tổng, tuy chức vụ vẫn là Tổng Giám mục chánh tòa của Giáo Phận, nghĩa là tòa đầy (sede plena), nhưng đây cũng chính là thời gian Đức Tổng hưu dưỡng. Gần hai năm cuối đời, Đức Tổng chọn chủng viện làm nơi nghỉ ngơi. Đức Tổng đã vào ở hẳn trong chủng viện. Đức Tổng bắt đầu một cuộc tĩnh tâm dài chuẩn bị cho ngày kết thúc hiến lễ đời mình…
✠ Từ sau ngày Đức Tổng sống bên cạnh chúng tôi trong chủng viện, Đức Tổng đã để lại cho riêng tôi nhiều bài học quý giá cho đời tu của tôi. Những bài học này đã theo tôi từ khi còn là đại chủng sinh mãi đến bây giờ. Chắc chắn nó sẽ còn đi theo suốt cuộc đời linh mục của tôi. Bài học mà tôi thấm thía nhất, đó là sự chấp nhận bỏ mình của Đức Tổng.
✠ Khuôn viên đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn ngày ấy thoáng mát, trong lành, có nhiều cây xanh, có những làn gió từ hướng sông Sài Gòn thổi tới. Nhất là vào mùa hè trời nóng bức, khuôn viên đại chủng viện cũng đỡ oi nồng.
Tuy dễ chịu là thế, nhưng để an toàn hơn cho sức khỏe của Đức Tổng, chủng viện lắp đặt một máy điều hòa nhiệt độ trong phòng ngủ của Đức Tồng…
Hôm ấy, vẫn như thường lệ, tiếng máy vẫn chạy rì rì, trời bỗng chuyển mưa, gió thổi mạnh. Không khí trong phòng trở nên man mát, lành lạnh. Sợ Đức Tổng bị cảm, chúng tôi định tắt máy lạnh. Để chắc ăn, dì Luca (dì phước được giao nhiệm vụ chăm sóc Đức Tổng) thưa với Đức Tổng: “Con tắt máy lạnh nghe Đức Cha?”. Đức Tổng hiền từ trả lời: “Ừ, tắt đi, lạnh rồi!”. Thế là chúng tôi tắt máy.
Rất lâu sau, trời vẫn chuyển và gió nhưng không mưa. Tôi lại gần thăm chừng Đức Tổng. Nhìn thấy những giọt mồ hôi lăn tăn trên trán Đức Tổng, tôi hốt hoảng. Vội đưa tay sờ vào áo Đức Tổng, tôi giật mình nhận ra, toàn lưng Đức Tổng mồ hôi thấm ướt áo. Tôi vội thưa: “Thưa Đức Tổng, Đức Tổng mồ hôi nhiều lắm. Chắc Đức Tổng khó chịu, con mở máy lạnh nghe?”. Đức Tổng nhìn tôi bằng một nụ cười hiền từ và bảo: “Ừ, con mở máy đi, nực rồi!”.
Tôi mở máy lạnh theo lời Đức Tổng mà lòng cứ dâng lên một niềm cảm mến và kính phục: Hình như Đức Tổng không những không muốn sống cho riêng mình, chỉ muốn sống vì người khác, mà còn là một sự bỏ mình!
Nhưng đâu chỉ là sự bỏ mình “cục bộ”. Càng suy nghĩ về nội tâm bình an đúng như tên gọi, về lối sống gần như chấp nhận dễ dàng hết mọi người, hết mọi hoàn cảnh (đến nỗi có người hằn học cho rằng Đức Tổng ba phải, nhu nhược…) của Đức Tổng, tôi càng nhận ra, sự bỏ mình ấy đã đi theo Đức Tổng từ lâu rồi. Nó dường như không còn chỉ là thói quen, nhưng đã thấm vào từng giọt máu, từng thớ thịt của Đức Tổng. Nói mạnh hơn, sự bỏ mình ấy đã từ lâu trở thành một phần sự sống của Đức Tổng.
Những năm tháng dài làm giám mục của một giáo phận không chỉ lớn, mà còn là một giáo phận giữa lòng một thành phố năng động, thành phố của sự hội nhập và phát triển mau chóng, một thành phố mà trong đó không ít phức tạp, nhất là những năm tháng phải sống cùng mọi thử thách của giáo phận, Đức Tổng đã hy sinh nhiều, đã chấp nhận nhiều. Chắc chắn, Đức Tổng cũng phải trút bỏ chính mình nhiều. Sự chấp nhận và chịu đựng lớn nhất có lẽ là chấp nhận và chịu đựng bị hiểu lầm nhằm giữ vững con thuyền giáo phận trong dòng chảy của đức tin, giữ vững việc sống và cao rao Lời Chúa giữa vô vàn khó khăn vây bũa. Sự trút bỏ chính mình giữa một hoàn cảnh đầy những bóng đêm, đã tạo nên nơi Đức Tổng nghị lực lớn, không chỉ cho Đức Tổng mà còn cho giáo phận đứng vững và vượt qua…
✠ Có nghe Đức Tổng nói về sự mất mát, nào là nhân sự, đất đai, các cơ sở, rồi hoạt động tôn giáo, cũng như rất nhiều hoạt động khác… của Hội Thánh tại miền Nam cũng bị mất mát sau biến cố 30.4, ta mới hiểu hết thế nào là sự chấp nhận trút bỏ của con người Đức Tổng để có được bình an nội tâm, có được sự hòa dịu hết sức có thể cho hoàn cảnh sống của tôn giáo mình nói chung, của giáo phận mình nói riêng: “Chúa lấy bằng tay này, nhưng Chúa lại cho bằng tay khác. Chúa lấy người, lấy của, Chúa hạn chế những hoạt động của chúng ta, nhưng Chúa cho chúng ta một Giáo Hội nghèo khó, thanh sạch hơn, khiêm tốn hơn”.
Hoặc nếu có lần nào, ta nghe một người thân thuộc nào đó kể về Đức Tổng, ta càng thấy rõ hơn khuôn mặt của con người sống một đời đầy sự trút bỏ này. Chẳng hạn, linh mục nhạc sĩ Kim Long có lần kể rằng, khoảng năm 1993, sau một lần cha phải giải phẫu khối u trong ruột, lúc đó cũng là lúc Đức Tổng đã rất yếu, phải đi tĩnh dưỡng một thời gian khá dài. Nhưng sau khi về lại Sài Gòn, nghe tin linh mục Kim Long đang dưỡng bệnh tại gia đình ở Tân Bình, Đức Tổng đã đến thăm. Linh mục Kim Long nói: “Hôm ấy, tôi thấy một xe hơi đậu trước nhà. Ngay lúc ấy, một cụ già đang lần bước men theo xe, bước chậm chạp. Tôi vội chạy ra. Tôi nhận ra Đức Tổng. Đức Tổng nói: ‘Tôi đi nghỉ ở Long Hải về, nghe tin cha bệnh, tôi thương quá. Tôi đang mệt lắm, nhưng tôi nghĩ phải đến thăm cha một chút vì tôi còn có thể đi được’”. Vì tuổi cao, sức yếu, lại đang bệnh tật, nếu Đức Tổng không đến thăm cha Kim Long, chắc cũng không ai dám trách. Nhưng nghĩ đến người anh em linh mục của mình, dù người anh em đó không thuộc giáo phận mình đang coi sóc, Đức Tổng đã bất chấp sự mệt nhọc của bản thân để thăm cha Kim Long cho bằng được.
✠ Một sự bỏ mình lớn như thế, triền miên như thế, thì bây giờ, một chút hy sinh nóng hay lạnh, đối với Đức Tổng có đáng là gì. Bởi đã một đời chấp nhận, thì sự chấp nhận ấy đã trở thành chính lẽ sống của Đức Tổng mất rồi!
Vì thế, nhớ về Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, tôi thấy Đức Tổng chính là bài học dạy tôi, sống với mọi người, không chỉ là chiều ý người khác, tìm làm đẹp lòng người khác, mà còn là sự bỏ mình để nên hữu ích cho danh Chúa và cho mọi người. Nhớ về Đức Tổng, tôi học bài học bỏ mình, để thêm sức mạnh, thêm can đảm giúp mình trưởng thành hơn, biết đương đầu để vượt qua khó khăn hơn…
✠ (Có sử dụng “Chứng từ yêu thương” của Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, nhân kỷ niệm giỗ một năm Đức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình).
Lm Vũ Xuân Hạnh


Quý vị có thể tìm hiểu chi tiết đầy đủ trên các trang:
Trở về trang danh sách: