Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Mẹ Maria. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Mẹ Maria. Hiển thị tất cả bài đăng

Cuộc Sống Ấn Kín Của Đức Maria - Audiobook Hay Về Cuộc Sống của Đức Mẹ Maria


Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết Về Đức Trinh Nữ Maria
Xin cộng đoàn xem trên trang
https://vi.wikipedia.org/wiki/Maria

Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria

Thần Đô Huyền Nhiệm - Cuộc Đời Đức Mẹ Maria (Intro)



Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết Về Đức Trinh Nữ Maria
Xin cộng đoàn xem trên trang
https://vi.wikipedia.org/wiki/Maria

Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria

Phim Cuộc đời ĐỨC MARIA NAZARET - Mẹ Thiên Chúa




Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết Về Đức Trinh Nữ Maria
Xin cộng đoàn xem trên trang
https://vi.wikipedia.org/wiki/Maria

Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria

Bài Giảng cực sâu sắc nói về Đức Trinh Nữ Maria


Bài Giảng hay về
ĐỨC TRINH NỮ MARIA LÀ MẸ HỘI THÁNH
Bài giảng của Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm I Đức Mẹ Tàpao

Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết Về Đức Trinh Nữ Maria
Xin cộng đoàn xem trên trang
https://vi.wikipedia.org/wiki/Maria

Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria

Tiểu Sử Cuộc Đời Mẹ Maria Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội| Mẹ Thiên Chúa Và Mẹ Của Hội Thánh



Tìm hiểu thêm thông tin chi tiết Về Đức Trinh Nữ Maria
Xin cộng đoàn xem trên trang
https://vi.wikipedia.org/wiki/Maria

Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria

Sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức

Mừng kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức là dịp Giáo Hội muốn nhắc nhớ cho toàn thể các tín hữu biến cố trọng đại mà cách đây đúng 150 năm, vào ngày 11 tháng 2 năm 1858, Đức Mẹ đã hiện ra với cô bé Bernadette trước cửa hang đá Massabielle-Lourdes (tiếng Việt Nam chúng ta quen gọi là Lộ Đức). Chỉ 5 tháng sau đó Giáo Hội đã mở các cuộc điều tra về biến cố này. Và vào ngày 18-01-1862, Đức Cha Laurence, Giám Mục Giáo phận Tarbes đã chính thức nhìn nhận việc Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức.

Lộ Đức ngày nay là một đô thành được cả thế giới biết đến. Với trên 7 triệu lượt khách hành hương hàng năm, đã mang đến cho đô thành này chiều kích tâm linh có một không hai trên thế giới. Lộ Đức đã trở nên địa điểm gặp gỡ linh thiêng giữa Thiên Chúa và con người, và giữa con người với nhau. Không nổi tiếng vì có những những công trình kiến trúc nguy nga, đồ sộ. Không thu hút vì có những danh lam thắng cảnh lý tưởng. Không ấn tượng vì có những vĩ nhân hay giai nhân xuất thân từ đây. Nhưng Lộ Đức thực sự là nơi linh thánh, là nơi mà con người có thể tìm về chính mình, và cho đi chính mình.

Bạn nói rằng bạn biết yêu, hãy đến Lộ Đức để chứng minh. Bạn nói rằng bạn đang yêu, hãy đến Lộ Đức để tìm người yêu. Và nếu bạn nói rằng bạn không biết yêu, Lộ Đức chính là suối nguồn tình yêu cho bạn.

Lòng sùng kính Đức Mẹ Lộ Đức đặc biệt đã bén rễ sâu vào mọi tâm hồn các tín hữu Việt Nam trong nước cũng như ở Hải ngoại. Những bài hát, lời kinh, những tâm tình dâng kính Mẹ được cất lên hàng ngày trong các buổi kinh nguyện gia đình cũng như trước hang đá Lộ Đức của các giáo xứ. Vâng, một cuộc hành hương về bên Mẹ là niềm mong ước của tất cả mọi người, nhưng không phải ai cũng có thể thực hiện được điều đó. Do vậy, ước mong đó thôi thúc con kính mời quý bà, quý ông, và tất cả các bạn cùng tham gia “cuộc hành hương tinh thần” về bên Mẹ trong ngày lễ trọng đại này. Bằng cách chúng ta cùng nhau đọc lại sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức, cùng nhau cầu nguyện Thiên Chúa qua bầu cử của Mẹ cho Hoà Bình trên thế giới, cho những con người nghèo khổ, bệnh tật, thiếu các điều kiện sống tối thiểu, cho Giáo Hội Việt Nam thân yêu của chúng ta, cho Thái Hà, cho Hà Đông và Toà khâm sứ cũ nữa.

Xin cho tình yêu và niềm hy vọng mãi ngự trị, sống động trong tâm hồn mỗi con người.

Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, Mẹ chính là dấu chỉ hy vọng mà Chúa gửi đến cho chúng con!
Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, Mẹ chính là nguồn suối mát cho tâm hồn chúng con!
Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, Mẹ chính là Tình Yêu đích thực của Thiên Chúa cho chúng con!
Xin cảm tạ Mẹ, xin Mẹ bầu cử cho chúng con trước toà Chúa.

Bản văn ‘Sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức’ bằng tiếng Việt Nam dưới đây được dùng chính thức tại đền Thánh Đức Mẹ Lộ Đức. Xin được gửi tới quý bà, quý ông và toàn thể các bạn. Chúng ta cùng đọc, suy niệm và cùng hiệp thông cầu nguyện cho nhau. Sưu tầm: Phê-rô Trần Mạnh Hùng

SỨ ĐIỆP ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Bạn hành hương đến Lộ Đức, hẳn không phải vì tò mò, nhưng có thể một vài thắc mắc còn đang phảng phất trong tâm trí của bạn:

- Tại sao lại cầu nguyện trước hang đá này?
- Tại sao các nhà thờ kia lại xuất hiện ở một nơi mà xưa chỉ là rừng núi hoang vu?
- Tại sao có từng đoàn người tụ họp ở đây?
- Tại sao lại có những cuộc rước kiệu như thế này?
  
Những việc ấy, với bạn, phải chăng hơi khó hiểu? Hoặc trái lại, bạn đã mơ ước một cuộc hành hương này từ lâu, và muốn coi đó như một bước tiến siêu nhiên thực sự. Vậy Lộ Đức với bạn bây giờ là nơi an bình, là chỗ cầu nguyện.

Nhưng khi bạn vừa đến nơi, rảo quanh đường phố, chắc bạn ngạc nhiên và có thể cảm thấy chướng mắt vì tính cách thương mại ở đây? Rồi khi vào đến khuôn viên này biết đâu bạn chẳng tưởng rằng mình sẽ xúc động nhiều, thế mà có thể lòng bạn vẫn dửng dưng?

Đừng dừng lại ở những cảm giác đầu tiên này bạn ạ. Dù bạn là ai đi nữa, trước hết hãy tự tủ rằng: ‘ Nơi đây mình đang được Người Mẹ nhân từ đón tiếp ’. Vậy bạn hãy tìm hiểu ý định của Người. Vì những gì bạn đang thấy đây, hoàn toàn không ngẫu nhiên, cũng chẳng phải là một thành quả do tổ chức của loài người! Mà là thực tại do việc trung thành thực thi sứ điệp mà Đức Mẹ đã trao ban cho Bernadette, sứ giả của Người.

Bernadette là ai? Đó là một cô bé 14 tuổi, không biết đọc cũng không biết viết, con một gia đình nghèo, có lẽ nghèo nhất Lộ Đức. Gia đình cô được tạm trú tại một nơi trước kia dùng làm nhà giam, mà nay người ta vẫn còn gọi là ‘ ngục thất ’. Chính cái nhà giam tồi tàn này đã là nơi nương thân cho cả gia đình, gồm ông bà thân sinh và bốn chị em Bernadette. Nhưng Đức Mẹ lại muốn chọn một cô bé tại chính nơi nghèo hèn này để làm sứ giả của Người, hầu thực hiện nơi đây những điều kỳ diệu mà bạn đang thấy.

Bạn có hiểu: Tại sao có sự nghèo khổ đến thế?
Tại sao có sự cùng khốn đến như vậy?

Đức Ki tô đã chẳng nói: “Phúc cho những kẻ nghèo khó” đó sao? Hơn nữa ơn huệ Lộ Đức chỉ có thể đến nhờ những kẻ nghèo khó này! Cuộc sống của Bernadette quá tầm thường, không có gì đáng ta chú ý. Nhưng sự ngoan ngoãn vâng lời của cô quả là một đức tính cao quí! Cô luôn lập lại nguyên văn sứ điệp của Đức Trinh Nữ Ma ri a, và can đảm kiện toàn ý định của Người. Đây bạn hãy lắng nghe Bernadette kể lại lần đầu tiên Đức Mẹ hiện ra với cô:

“Lần thứ nhất tôi đến hang đá vào ngày thứ năm 11-02-1858 để nhặt củi với hai bạn gái khác. Lúc đến máy xay tôi hỏi họ: Các bạn có muốn đi xem chỗ nước kênh chảy vào sông Gave không? Họ nói: có. Thế là chúng tôi men theo bờ kênh, đến trước một hang đá, tự nhiên tôi không thể bước xa hơn được nữa. hai bạn tôi đã tìm đủ mọi cách để lội qua giòng nước trước hang đá, khi qua được rồi thì họ bắt đầu khóc. Tôi hỏi: tại sao các bạn khóc? họ bảo: Vì nước lạnh quá! Tôi nhờ họ bỏ mấy tảng đá to xuống nước để tôi có thể bước qua mà khỏi phải cởi giày, nhưng họ đã từ chối và bảo tôi phải lội qua như họ. Tôi thử ra xa hơn một chút để xem có thể bước qua được không nhưng không thể được, tôi đành lùi lại để cởi giày. Vừa cởi xong chiếc tất thứ nhất, tôi nghe có tiếng gió thổi thật mạnh, tôi vội quay sang phía đồng cỏ đối diện với hang đá, nhưng cây cối vẫn im lìm! Tôi tiếp tục cởi giày thì lại có tiếng gió thổi nữa…và vừa ngẩng đầu nhìn hang đá, tôi chợt thấy một Bà với sắc phục màu trắng. Bà mặc áo dài và đội khăn trắng, thắt lưng xanh, trên mỗi bàn chân lại có một bông hoa màu vàng, giống màu tràng hạt đeo trên tay Bà. Lúc ấy tôi hơi sửng sốt, tưởng mình nhìn lầm, tôi dụi mắt nhìn kỹ lại lần nữa, nhưng vẫn cũng nhìn thấy Bà đó. Tôi lấy tràng hạt từ trong túi ra, và muốn làm dấu Thánh giá, nhưng tôi không thể nâng nổi bàn tay lên trán. Tay tôi run len vì sợ, nhưng tôi không bỏ chạy. Bà cầm tràng hạt đeo trên tay, rồi làm dấu Thánh Giá, tôi cũng thử làm theo Bà, và lần này tôi mới ‘làm dấu’ được. Vừa làm dấu thánh giá xong tôi hết không còn cảm thấy sợ hãi nữa. Tôi quỳ xuống lần hạt trước mặt ‘Bà đẹp’ ấy. Tuy tay lần hạt mà môi Bà không mấp máy. Khi lần hạt xong, Bà vẫy tôi lại gần nhưng tôi không dám. Thế rồi Bà biến mất.”

Sau lần này, Bernadette còn được trông thấy Bà hiện ra 17 lần nữa. Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 18-02, Bà mới bắt đầu nói với cô: “Con có vui lòng đến đây liên tiếp 15 ngày nữa không? Ta không hứa sẽ làm cho con được sung sướng ở đời này, nhưng là ở đời sau.”

Trong 15 ngày tiếp đó, Bà đã nhắn nhủ và truyền cho Bernadette nhiều điều:

- Con hãy cầu nguyện cho kẻ có tội.
- Hãy sám hối! sám hối! sám hối!
- Con hãy đến uống và rửa ở suối này.
- Con hãy ăn những ngọn cỏ kia.
- Con hãy hôn đất đền thay cho kẻ có tội.
- Con hãy nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây.
- Mẹ muốn người ta đến đây rước kiệu.

Đức Trinh Nữ còn dạy Bernadette một kinh nguyện riêng và ký thác cho cô bà điều bí mật. Tuy nhiên Bà vẫn chưa cho cô biết tên. Mãi đến ngày 25-03-1858 Bà mới mặc khải cho cô danh tánh của mình. Đây bạn hãy nghe Bernadette vắn tắt kể lại những lần hiện ra trong vòng 15 ngày ấy:

“Bà dặn tôi nhiều lần rằng: Hãy nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây; hãy đến uống và rửa ở suối này; phải cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn hối cải. Trong vòng 15 ngày ấy Bà còn nói với tôi 3 điều và dặn tôi không được nói với ai. Tôi vẫn trung thành giữ kín. Sau ngày thứ 15, tôi hỏi Bà ba lần liên tiếp: Bà là ai? Nhưng Bà chỉ mỉm cười. Tôi đánh bạo hỏi thêm lần thứ tư. Lúc ấy Bà mới buông tay xuống, ngước mắt nhìn lên trời rồi vừa nói vừa chắp tay trước ngực:

‘QUE SOY ERA IMMACULADA COUNCEPTIOU’

Đó là thổ âm của vùng Lộ Đức lúc bấy giờ, được dịch ra tiếng pháp là: ‘ Je suis l’Immaculée Conception ’, và dịch sang tiếng việt nam là: ‘ Ta, Vô Nhiễm Nguyên Tội ’. Đó là những lời cuối cùng mà Bà nói với tôi, Bernadette nói. Cô còn tả thêm: Bà có đôi mắt xanh. Sau đó cô còn được thấy Bà hai lần nữa. Một lần vào thứ tư trong tuần phục sinh, ngày 7-04. Và lần cuối cùng vào ngày 16-07. Trong lần cuối cùng đó, cô thấy Bà đẹp một cách khác thường. Hẳn bạn nhận thấy trong những lần hiện ra, Đức trinh Nữ đã nói rất ít. Qua những ước muốn của Người, ta nhận thấy sứ điệp của Người trao cho Bernadette có thể tóm lược trong ba lời mời gọi sau đây:''
Mời gọi cầu nguyện.
Mời gọi sám hối.
Mời gọi rước kiệu và xây nhà nguyện ở đây.

1- Mời gọi cầu nguyện.

Không cần những lời tuyên bố dài dòng, cũng chẳng cần đến những lý thuyết cao siêu, Đức Ma ri a trong vai trò một huấn luyện viên thành thạo, đã cầu nguyện với Bernadette. Ngay khi hiện ra lần thứ nhất, Người đã dậy Bernadette làm dấu Thánh Giá và lần hạt cách sốt sắng. Mỗi lần hiện ra Người đều làm như vậy. Người con dậy riêng cho Bernadette một kinh nguyện, rồi cuối cùng mới trao cho cô sứ điệp cầu nguyện: Con hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại.

Tại sao Đức Mẹ phải nhấn mạnh đến sự cầu nguyện? Chính vì tâm trí ta dễ bị phân tán và xâm chiếm bởi nhiều nỗi khó khăn, lo lắng. Tất cả chúng ta đều cần có những lúc cầm trí, sống trong thinh lặng, hầu dễ đặt mình trước mặt Chúa để thờ lạy Ngài, và như kẻ ăn xin cùng khổ tỏ bày với Ngài mọi nhu cầu của mình.

Chúng ta đừng tưởng đó là thái độ tự nhiên và dễ dàng. Cầu nguyện là một việc rất khó, vì nó đòi hỏi ta phải biết tách mình ra khỏi những công việc bận rộn hàng ngày, để tâm trí ta được Đức tin tự do hướng dẫn. Ta hãy nghe lời nhắn nhủ khẩn thiết của Đức Mẹ Lộ Đức: Hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại.

2- Mời gọi sám hối.

Đức Trinh Nữ đã lập lại với Bernadette ba lần: ‘ Hãy sám hối, sám hối, sám hối ’. Người dạy cô một việc đền tội tiêu biểu: hôn đất và uống nước đục! tại sao vậy? Vì hãm mình đền tội là điều cần thiết để duy trì thế quân bình nơi ta, và giúp ta có đủ khả năng cu toàn bổn phận. Hơn nữa, trong việc đền tội, Chúa Ki tô sẽ giúp ta, sẽ tha tội cho ta, chính Ngài đã thiết lập và đặt vào đời sống ta bí tích cáo giải. Thông qua linh mục ta được ơn tha tội, được sức mạnh và lòng quảng đại, để thăng tiến, hầu nên giống Chúa Ki tô, gương mẫu của ta, cách đặc biệt hơn.

Vì, hoàn tất một cuộc hành hương tốt đẹp, không phải chỉ lãnh Bí Tích Cáo Giải, nhưng chính là phải quay về với Thiên Chúa, diệt trừ nơi ta mọi trở ngại cho tình yêu của Ngài. Tóm lại, ta phải mô phỏng trong đời sống của mình cái lý tưởng đã được đề ra, như chính Chúa Ki tô đã sống. Tất cả những cố gắng ấy chính là điều mà chúng ta gọi là: lòng sám hối, là ơn cải hoá, là ơn trở lại.

Ngày 25-02-1858 Đức Mẹ nói với Bernadette: ‘ Con hãy đến uống và rửa ở suối này ’. Người chỉ cho cô tìm ra một giòng suối, mà hiện nay vẫn còn tiếp tục chảy trong hang đá. Suối nước này ban đầu rất đục, nay bùn đã lắng xuống, và trở thành suối nước trong suốt. Đó chính là dấu hiệu cho sự sám hối của ta. Nó tượng trưng cho sự cố gắng mà chúng ta phải có, để làm lắng đọng trong ta tất cả những gì là u ám, vẩn đục hầu nên giống Chúa Ki tô. Và đó cũng là một trong những ơn huệ Lộ Đức.

3- Mời gọi rước kiệu và xây nhà nguyện.

“Con hãy nói với các linh mục xây nhà nguyện ở đây. Mẹ muốn người ta đến đây rước kiệu”

Nhà nguyện là nơi dân Chúa tụ họp để nghe lời Chúa và cử hành nhiệm tích Thánh Thể. Để đáp lại nguyện vọng của Đức Ma ri a mà ba đại giáo đường đã lần lượt được xây cất ở đây:

- Vương cung Thánh Đường Đức Mẹ vô nhiễm.
- Vương cung Thánh Đường Đức Mẹ Mân Côi.
- Vương cung thánh Đường PIÔ X.

“Người ta sẽ xây nhà nguyện cho con, và xây rất lớn” , cha sở Lộ Đức Peyramale đã nói với Bernadette như thế khi cô đến trình cha về lời yêu cầu của Đức Mẹ, hẳn cha đã không ngờ rằng mình nói rất đúng.

Những Thánh đường này hằng ngày quy tụ từng đoàn người hành hương đến viếng thăm, chầu Thánh Thể và rước kiệu. Chính tại nơi đây, Thánh lễ cũng như các buổi rước kiệu Thánh Thể luôn được cử hành rất long trọng, vì thế Lộ Đức thật xứng với danh hiệu “Thành phố của nhiệm tich Thánh Thể”. Đức PIO X cũng coi Lộ Đức như “Ngai toà vinh hiển nhất của nhiệm tích Thánh Thể trên thế giới”. Đó không phải là một thai độ phô trương, mà là một nhu cầu:

- Làm sống động niềm tin của chúng ta vào Đức Ki tô khải hoàn, luôn hoạt động trong Giáo Hội.
- Làm phát triển tình huynh đệ của chúng ta đối với mọi anh em.
- Đưa chúng ta đến tận suối nguồn trường sinh.

Như lời của Đức Cha Théas: “Nhiệm Tích Thánh Thể hoàn tất cuộc trở lại của chúng ta.”

Ba lời mời gọi khẩn thiết trên chính là sứ điệp của Đức Mẹ Lộ Đức. Người ta chỉ còn đợi Người ký tên xác nhận, và quả thật Người đã ký nhận sứ điệp này cách tuyệt diệu vào ngày 25 tháng 3 năm 1858: “ TA, VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI”

Danh hiệu này quá cao siêu, chưa một nhà thần học nào dạy Bernadette và dĩ nhiên Bernadette càng không thể bịa ra được. Đức Ma ri a hiện diện giữa chúng ta như một tạo vật cao đẹp nhất, Người thực thi kế hoạch của Thiên Chúa cách trọn hảo nhất. Người thật xứng đáng được trọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế.

Cùng với hàng trăm, hàng triệu khách hành hương ở Lộ Đức, chúng ta hợp lòng dâng lên Mẹ từ ái lợi ca tụng tuyệt mỹ, mở đầu cho kinh kính mừng: ‘ Kính mừng Ma ri a đầy ơn phúc, Đức Chúa trời ở cùng Bà ’, và đồng thời cũng xin Mẹ thương ban trên chúng ta, những kẻ tội lỗi, ánh mắt nhân hiền của Người, để khi nhìn ngắm Mẹ, chúng ta có đủ khả năng hoán cải tâm hồn.

Trong thời gian hành hương tại Lộ Đức, chúng ta đắm mình trong bầu khí thinh lặng và cầu nguyện này, để mong tìm được ở đó nguồn sống mới. Ta hãy để ân sủng Lộ Đức thấm nhuần tận tâm can, vì nhờ đó, Đức Ma ri a sẽ dẫn chúng ta đến với Chúa Giê su, con Cực Thánh của Mẹ. Amen.

Phêrô Trần Mạnh Hùng
(tinmung.net) 

Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria

Sứ điệp của Đức Mẹ Lộ Đức trong cuộc đời chị Bernadette

Các cuộc hành hương tới Đền Thánh Đức Mẹ

Con người và cuộc sống của chị Bernadette đã là chứng tá trong sáng nhất diễn tả sứ điệp của Đức Mẹ Lộ Đức. Vào cuối cuộc đời dương thế chị Bernadette bị chìm ngập trong đêm đen của khổ đau trên thân xác cũng như trong tâm hồn và đêm đen của đức tin và đức cậy.

Đêm đen thứ nhất là các bệnh tật và khổ đau trên thân xác. Bệnh lao phổi của chị đã không bao giờ được chẩn nhận. Linh Mục viện phụ Febvre, cha giải tội của chị Bernadette, cho biết ”chị bị bệnh hen suyễn kinh niên, đau như xé ngực và nôn mửa ra máu và tình trạng này kéo dài hai năm; chị bị giãn tĩnh động mạch bất thường, đầy hơi và bướu một đầu gối... và trong hai năm cuối đời chị bị hoại xương khiến cho thân thể tội nghiệp của chị trở thành nơi quy tụ tất cả mọi nỗi đau đớn. Ngoài ra trong tai của chị còn có các vết sưng khiến cho chị bị điếc một phần, và bệnh điếc này đã chỉ biến mất ít lâu trước khi chị qua đời”.

Đêm đen thứ hai là đêm đen của các giác quan. Thời gian Đức Mẹ hiện ra với chị đã qua lâu rồi, và Bernadette không còn có thể nhớ ra nữa. Nỗi sợ hãi bị đánh lừa ám ảnh hành hạ chị ngày đêm. Thời gian xem ra xa xôi và lạ lẫm đối với chị, tới độ Bernadette sợ hãi đã lầm lẫn. Đã xảy ra cho chị điều xảy ra cho thánh nữ Terexa Hài Đồng Giêsu, khi chị Terexa tin rằng mình đã tạo ra câu chuyện Đức Mẹ hiện ra hồi còn nhỏ và mãi sau này chị mới thừa nhận sự hiển nhiên trong nhà thờ Đức Bà Chiến Thắng. Sự nghi ngờ của chị Bernadette ít triệt để hơn, nhưng đối với chị nghĩ tới hay nói tới biến cố Đức Mẹ hiện ra với chị đã trở thành một nỗi khổ đau.

Đêm đen thứ ba chị Bernadette phải chịu là đêm đen của đức tin và đức cậy. Đây là hiện tượng sâu xa và khắc nghiệt hơn. Các ngôi sao làm dịu đêm đen đức tin đã hoàn toàn biến mất khỏi chân trời. Bernadette có cảm tưởng chị đã không đáp trả lại ơn thánh Chúa và bị bỏ rơi, và chị đã sống lâu trong tình trạng đen tối này. Chị thổ lộ rằng: ”Nỗi đau đớn trên thân xác, tuy nặng nề, nhưng vẫn không là gì trước sự âu lo tinh thần”. Nhưng Thiên Chúa hướng dẫn cuộc sống nội tâm của chị. Nó được đào luyện hơn là chính chị đào luyện cho nó. Thật ra, sứ mệnh của Bernadette là thực hiện sứ điệp Lộ Đức trong nội tâm. Trong viễn tượng này người ta hiểu sứ điệp chị đã nhận được và tiếp tục sống trong tu viện tại Nevers: kỷ niệm về các lần Đức Mẹ hiện ra xa dần, việc chìm sâu trong sự nghèo khó, khiêm nhường, sự yếu đuối khổ đau, nỗi lo lắng trung thành với hoạt động của ơn thánh của bài thánh thi Magnificat, lời cầu nguyện và con đường hãm mình theo gương Mẹ Maria. Bernadette không còn trông thấy Đức Mẹ nữa, nhưng chị kiên trung bước theo lộ trình ơn gọi của mình. ”Ta không hứa cho con hạnh phúc ở đời này nhưng trong đời sau”. Bernadette nhận thấy phần thứ nhất đang được thực hiện, và giờ đây, mặc cho mọi sự, chị dựa vào đó để hy vọng phần thứ hai cũng sẽ được hiện thực.

Kể từ khi Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hiện ra năm 1858, sau Roma Lộ Đức đã trở thành nơi hành hương quốc tế nổi tiếng với 5 triệu người mỗi năm. Họ đến từ Italia, Bỉ, Đức, Hòa Lan, Anh quốc, Tây Ban Nha và các nước Âu châu khác. Nhưng cũng có những người đến từ các nước Á châu, Phi châu, Mỹ châu và Đại dương châu. Có những tín hữu hành hương hai ba ngày nhưng cũng có những người tò mò được tiếp đón như ”khách hành hương trong một ngày”.

Ban đầu đi hành hương Lộ Đức là một chinh phục rất vất vả khó khăn. Sau các lần Đức Mẹ hiện ra, từ tháng 4 tới tháng 10 năm 1858, chính quyền cấm dân chúng đến Hang Đá. Muốn đến Hang Đá phải có giấy phép của hoàng đế Napoleon III, khi đó đang nghỉ hè trong vùng núi Pirênê. Hoàng đế cũng muốn lợi dụng dip này để làm cho mình có gương mặt bình dân hơn. Nhưng cũng từ ngày đó số người tìm đến Lộ đức cầu nguyện gia tăng đáng kể.

Ngày 19 tháng 11 năm 1858 Ủy ban điều tra của Tòa Giám Mục đến Hang Đá lần đầu tiên. Sau khi xem xét tỉ mỉ các biến cố, tìm hiểu chị Bernadette cũng như các phép lạ lành bệnh xảy ra và các hoa trái thiêng liêng mà tín hữu nhận được tại Hang Đá Đức Mẹ, Đức Giám Mục thừa nhận tính cách đích thực của các lần hiện ra và tuyên bố: ”Đức Trinh Nữ đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous”. Tiếp theo đó có các đoàn hành hương được tổ chức, và các tín hữu đến hành hương có tính cách cá nhân. Cuộc hành hương chính thức đầu tiên được tổ chức ngày mùng 4 tháng 4 năm 1864 nhân dịp khánh thành và đặt bức tượng Đức Mẹ vào Hang Đá. Tượng bằng đá cẩm thạch Carrara do ông Fabish người Lyon tạc. Hai năm sau, ngày 21 tháng 5 năm 1866 có một cuộc hành hương chính thức khác nhân dịp thánh hiến hầm nhà thờ.

Khi đường xe hỏa nối liền Lộ Đức với Bayonne năm 1867 và với Toulouse vào năm 1868, các cuộc hành hương bằng xe lửa bắt đầu. Cuốn sách của ông Henri Lasserre tựa đề ”Đức Bà Lộ Đức” xuất bản năm 1869 và được dịch ra 80 thứ tiếng khác nhau, đã giúp phổ biến sứ điệp của Đức Mẹ và khiến cho các cuộc hành hương trở thành bình dân hơn. Nhưng các cuộc hành hương đã chỉ thực sự gia tăng sau khi nước Pháp thua trận trong chiến tranh Pháp - Phổ năm 1870-1871. Vào tháng 10 năm 1872 ”cuộc hành hương cờ” đã tạo ra một cảnh ngoạn mục tại Lộ Đức. Năm tiếp theo đó 1873 có cuộc hành hương toàn quốc cầu nguyện và đền tội. Và chỉ nội trong năm 1873 đã có tới 183 cuộc hành hương tổng cộng có 140 ngàn người tham dự. Năm sau đó 1874 người ta tổ chức các chuyến xe lửa chở các bệnh nhân đi hành hương Lộ Đức.

Lịch sử hành hương Lộ Đức có các thời điểm quan trọng: trong các ngày 1-3 tháng 7 năm 1876 có lễ thánh hiến vương cung thánh đường và đội triều thiên cho tượng Đức Mẹ. Ngày 16 tháng 7 năm 1883 kỷ niệm 25 năm Đức Mẹ hiện ra và lễ đặt viên đá đầu tiên xây vương cung thánh đường Mân Côi. Trong năm đó đã có 230 cuộc hành hương. Trong các ngày 17-21 tháng 8 năm 1899 có đại hội Thánh Thể. Măm 1908 kỷ niệm 50 năm Đức Mẹ hiện ra có 157 cuộc hành hương, trong đó 76 cuộc hành hương là của các tín hữu đến từ nước ngoài, tổng cộng có hơn 1 triệu người. Trong các ngày 21-26 tháng 7 năm 1914 đại hội Thánh Thể quốc tế lần thứ 25 đã được tổ chức tại Lộ Đức. Năm 1958 kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức Đức Giáo Hoàng Pio XII muốn đến Lộ Đức để cử hành thánh lễ nhân cuộc hành hương của Phong trào Công nhân công giáo tiến hành Pháp. Chương trình hành hương của Đức Giáo Hoàng được giữ bí mật, tuy cảnh sát Lộ Đức đã được báo trước. Nhưng ngày áp lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời bác sĩ tư của Đức Pio XII ông Galeazzi đã không thể cho phép ngài đi Pháp vì sức khỏe của Đức Thánh Cha quá yếu. Một tháng sau Đức Pio XII qua đời.

Kể từ khi bắt đầu chuyến hành hương của các bệnh nhân bằng đường xe lửa năm 1874, số các bệnh nhân đến hành hương Lộ Đức ngày càng gia tăng. Hằng năm có hơn 50.000 bệnh nhân được chở đi hành hương Lộ Đức với các chuyến xe lửa đặc biệt có các bác sĩ, y tá và các thiện nguyện viên đi theo.

Với số bệnh nhân đông như thế cần phải tổ chức các nhà thương để đón tiếp người bệnh trong những ngày họ lưu lại Lộ Đức. Nhà thương cuối cùng rất tối tân được xây dựng là nhà thương dâng kính thánh nữ Bernadette. Các bệnh nhân được săn sóc miễm phí bởi các bác sĩ, các y tá và các nhân viên đẩy xe đưa các bệnh nhân từ nhà thương tới Hang Đá hay tới quảng trường Đức Mẹ để tham dự các lễ nghi phụng vụ hay đi tắm suối Đức Mẹ Lộ Đức.

Hành hương Lộ Đức đem lại lợi ích thiêng liêng rất lớn cho các bệnh nhân. Nó khiến cho họ ra khỏi tình trạng bị cô lập nặng nề, và cống hiến cho họ khả thể sống hiệp thông với các anh chị em bệnh nhân khác cũng như những người khỏe mạnh và cho họ dịp tập hội nhập vào cuộc sống thường ngày. Thiện ích vừa tinh thần vừa trị liệu này được người bệnh cảm nhận một cách hiển nhiên hơn là các phép lạ, vì để được thừa nhận các phép lạ cần trải qua các thể lệ và tiến trình điều tra lâu dài và khó khăn với kết qủa thường là tiêu cực.

Đây chắc hẳn là một trong các lý do khiến cho nhiều người được phép lạ nhưng không khai báo với Văn phòng ghi nhận y khoa Lộ Đức. Thế rồi có nhiều người tuy không được khỏi bệnh phần xác, nhưng được ơn khỏi bệnh phần hồn và thay đổi cuộc sống. Cũng có những người khi đến nơi không muốn xin ơn khỏi bệnh nữa.

Bên cạnh trung tâm thánh mẫu Lộ Đức có văn phòng quan sát y khoa đo Đức Giáo Hoàng Pio X thành lập năm 1905. Văn phòng này theo các tiêu chuẩn được định nghĩa bởi Đức Hồng Y Lamberti, tức Đức Giáo Hoàng Biển Đức XIV tương lai, cho án phong chân phước. Làm việc trong văn phòng này có các bác sĩ thuộc bất cứ xác tín tôn giáo nào. Họ quan sát ghi nhận các vụ khỏi bệnh lạ lùng và trình lên Ủy ban y khoa quốc tế cứu xét. Nếu thấy đó là các vụ khỏi bệnh không thể nào giải thích được trên bình diện y khoa theo các hiểu biết hiện hành. Tiếp đến sau khi có các thẩm định khác Giáo Hội có thể khẳng định tính cách phép lạ của việc lành bệnh.

Để một vụ lành bệnh có thể coi là phép lạ, phải có các điều kiện sau đây. Thứ nhất, việc chẩn bệnh ban đầu phải được kiểm thực và xác nhận không có sự nghi ngờ nào. Thứ hai, căn bệnh phải được coi là không thể chữa trị được nữa theo các hiểu biết y khoa hiện hành. Thứ ba, việc khỏi bệnh phải liên quan tới một lần viếng thăm Lộ Đức, mặc dầu không đòi phải dìm mình trong nước suối Đức Mẹ. Thứ bốn, Việc khỏi bệnh phải tức khắc, với việc chấm dứt nhanh chóng các triệu chứng hay các dấu hiệu của bệnh. Thứ năm, việc khỏi bệnh phải hoàn toàn, không còn có các dấu vết khó chịu. Và thứ sáu, việc khỏi bệnh phải vĩnh viễn, không mắc lại.

Cho tới nay trên tổng số 7.000 vụ khỏi bệnh không thể giải thích được trên bình diện y khoa, đã chỉ có 68 phép lạ khỏi bệnh tại Lộ Đức được Giáo Hội chính thức thừa nhận. 80% những người được lành bệnh là phụ nữ. Bệnh nhân trẻ tuổi nhất là một em bé 2 tuổi. Trong số các người được phép lạ có 55 người Pháp, 7 người Ý, 3 người Bỉ, 1 người Đức và 1 người Áo. Có 6 người được Đức Mẹ cho khỏi bệnh, tuy không đi hành hương tới Lộ Đức. Trên tổng số 68 người có 49 người được lành bệnh nhờ nước suối Đức Mẹ Lộ Đức, trong có đó 39 người nhờ tắm nước suối Đức Mẹ.

Nước suối Lộ Đức được phân tích lần đầu tiên ngày mùng 7 tháng 8 năm 1858 và cho thấy nó là nước bình thường uống được ”không có chất sát trùng cũng không có chất kháng sinh”, và tuyệt đối không có các chất có thể có giá trị chữa bệnh như các chuyên viên khẳng định trong lần phân tích ngày mùng 8 tháng 10 năm 1964. Nước vọt ra từ suối chỗ chị Bernadette đã bới đất, lạnh 12 độ C và chảy ra liên tục với lưu lượng mỗi ngày từ 17.000 tới 72.000 lít tùy theo mùa. Còn nước trong hồ tắm cho các bệnh nhân được thay 2 lần mỗi ngày, chứ không phải sau mỗi lần dìm một bệnh nhân. Và các bệnh nhân đến tắm nước suối Đức Mẹ mắc đủ mọi thứ bệnh truyền nhiễm kể cả các bệnh truyền nhiễm về da. Và mỗi ngày có 2.000 bệnh nhân được dìm mình trong nước suối Đức Mẹ. Nhưng đã không hề xảy ra hiện tượng lây bệnh nào.

(Thánh Mẫu Học bài 339)
Linh Tiến Khải - http://conggiao.info/
Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria

Các lần Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức

Từ tháng 2 cho tới tháng 7 năm 1858 Đức Mẹ đã hiện ra với chị Bernadettte Soubirous tại hang đá Massabielle ở Lộ Đức 18 lần.


Lần đầu tiên là ngày thứ năm 11 tháng hai, lần thứ hai ngày Chúa Nhật 14, lần thứ ba là ngày thứ năm 18 cùng tháng. Sau khi tham dự thánh lễ Bernadette xuống hang đá vào khoảng lúc 7 giờ, có bà Millet và cô Peyret đi theo. Bernadette đã sung sướng được nhìn thấy Đức Mẹ trong khoảng một giờ. Và trong lần này chị được nghe tiếng Đức Mẹ nói lần đầu tiên. Cô Antoinette Peyret đưa cho Bernadette một mảnh giấy, một cái bút với mực và nói: ”Đi hỏi Bà điều Bà muốn, và xin Bà viết ra”. Bernadette vâng lời làm theo. Đức Mẹ cười và trả lời: ”Điều Ta muốn nói với con không cần phải viết ra”. Sau khi cầm trí Đức Mẹ hỏi Bernadette: ”Con có muốn có lòng tốt đến đây trong 15 ngày không?” Bernadette kinh ngạc khi nghe Bà hỏi với tất cả sự lịch lãm và kính trọng đối với mình là một cô bé gái nghèo nàn như vậy. Bernadette nhanh nhẹn trả lời: ”Vâng, thưa Bà, con hứa với Bà... nếu cha mẹ con cho phép”. Đức Mẹ nói với Bernadette: ”Ta không hứa cho con hạnh phúc ở đời này, nhưng trong đời sau”. Với tất cả chúng tôi Bà thêm lời mời kín đáo: ”Ta ước muốn trông thấy người ta cũng đến”. Và Bernadette nói với chúng tôi điều chị nói với cô Antoinette: ”Bà nhìn chị trong lúc này”.

Lần thứ bốn Đức Mẹ hiện ra là thứ sáu 19-2. Sau thánh lễ vào khoảng 7 giờ chúng tôi thấy Bernadette, mẹ cô và dì Bernarde Castérot, bà Millet và vài phụ nữ khác ở Hang Đá. Bermadette làm dấu thánh gía, mà cô đã thấy Bà làm, và cô lần hạt Mân Côi. Mới tới kinh Kính Mừng thứ ba các chứng nhân trông thấy cô ”hân hoan” trong khoảng nửa giờ. Họ khâm phục các làn sóng tươi vui và các nụ cười rạng rỡ trên gương mặt cô. Bà mẹ Bernadette thấy con gái mình hiển dung liền kêu lên: ”Ôi lậy Chúa, con xin Chúa, xin Chúa đừng lấy mất con con”. Người ta nghe Bernadette nói: ”Ôi Bà đẹp biết chừng nào!” Họ hỏi Bà nói gì, Bernadette trả lời: ”Bà cám ơn tôi đã đến. Nữ Hoàng và Mẹ nói ”Cám ơn”. Bà nói với tôi rằng sau này Bà sẽ có các mạc khải cho tôi”. Đức Mẹ cần chuẩn bị cho Bernadette quen với sự thân tình lớn lao này. Nhưng trong khi loài người chỉ sau này mới nhận ra tầm quan trong của điều đến từ trời cao, thì hỏa ngục đoán biết rất sớm. Bernadette sẽ vén mở cho biết như sau: ”Trong khi tôi cầu nguyện, thì có các tiếng nói gọi tôi, phải nói là hàng ngàn người giận dữ. Thật khủng khiếp. Tiếng nói mạnh nhất đã kêu lên: ”Hãy cứu lấy mày đi! Hãy cứu lấy mày đi!” Nhưng Bà đã nhìn về phía sông Gave trong khi nhíu lông mày, và các tiếng nói đã tan biến”.

Lần hiện ra thứ năm là hôm sau thứ bẩy 20 tháng hai. Bernadette xuống Hang Đá sau thánh lễ với mẹ và dì Basile. Lần này có khoảng 30 nhân chứng. Bernadette tới Hang Đá Massabielle vào lúc 6 giờ rưỡi sáng. Chị không ngạc nhiên cũng không cảm động khi thấy đám đông đang đợi mình. Chị có cùng điệu bộ như thể chị chỉ là một nữ khán giả, và chị qùy gối xuống chỗ thường qùy. Không để ý đến các đôi mắt đang chăm chú nhìn mình, chị lấy tràng hạt ra và bắt đầu cầu nguyện.

Các nhân chứng cho biết gương mặt chị bất thình lình sáng lên, được biến đổi, rạng rỡ và thấm nhuần ánh sáng thiên linh, và phản ánh tuyệt vời của nó mà chúng tôi nhận biết, cho chúng tôi sự chắc chắn đầy tràn về trung tâm sáng láng mà chúng tôi không nhận thấy. Hôm đó người ta thấy Bernadette như bị đảo lộn, khi vui tươi khi sợ hãi; thân mình chị như bị động và kéo tới phía trước, lên cao; tay chị chắp lại giơ cao lên; mặt chị toàn màu xanh da trời và hốc hác, mắt mở lớn đẫm lệ chảy đài xuống mặt, các giọt lệ khác với các giọt lệ mà chúng ta khóc, chúng phát xuất từ một sự đau đớn tinh tuyền. Duyên dáng biết bao trong các cử điệu, các cúi đầu, trong các lời chào, nụ cười và cái nhìn của chị! Chị không còn là cô con gái của bà Louise Soubirous nữa, nhưng là con gái của một người Mẹ thiên quốc! Sau bốn mươi phút xuất thần, khi trở về nhà với bà mẹ trần gian, Bernadette đã thổ lộ với mẹ rằng Bà ”đã dạy cho chị từng tiếng một lời cầu nguyện chỉ cho một mình chị mà thôi”, lời cầu nguyện mà chị sẽ trung thành đọc mỗi ngày trong cuộc sống, nhưng đã không bao giờ cho ai biết nó.

Lần thứ sáu Đức Mẹ hiện ra với chị là ngày Chúa Nhật 21 tháng 2. Đây là Chúa Nhật đầu tiên Mùa Chay năm 1858. Vào lúc 6 giờ rưỡi sáng, vùng phụ cận hang đá có tới một trăm nhân chứng. Có cả một bác sĩ nữa. Đó là bác sĩ Dozous, ở gần quan sát tình trạng của chị Bernadette trong nửa giờ xuất thần, nhưng ông không khám phá ra sự qúa kích động thần kinh nào cả. Bác sĩ kể lại với chúng tôi rằng: ”Sau khi tôi đã buông tay cô ra, Bernadette tiến tới gần Hang Đá hơn một chút; chẳng mấy chốc tôi trông thấy gương mặt cô, cho tới lúc đó diễn tả niềm hạnh phúc toàn vẹn nhất, trở thành buồn sầu; nước mắt rơi xuống từ mắt và chảy dài trên má. Các thay đổi diện mạo trong trạng thái này khiến cho tôi ngạc nhiên. Sau khi cô đã cầu nguyện xong và nhân vật huyền nhiệm đã biến đi, tôi hỏi cô cho biết điều gì đã xảy ra trong tình trạng lâu dài ấy, cô trả lời tôi: ”Trong khi bỏ không nhìn tôi, Bà hướng cái nhìn ra xa ở bên trên đầu tôi; rồi lại nhìn tôi là người đã hỏi Bà điều khiến cho Bà buồn, Bà nói với tôi: Con hãy cầu ngyyện cho các người tội lỗi, cho thế giới qúa bị giao động. Tôi mau chóng được trấn an bởi lòng tốt và sự thanh thản mà tôi đã có thể trông thấy trên gương mặt Bà, và lập tức Bà biến đi”. Đó là ý muốn của Mẹ Maria trong ngày Chúa Nhật đầu tiên của mùa Chay: cầu nguyện và xin người ta cầu nguyện cho những người tội lỗi. Nhưng cũng phải đau khổ nữa. Cũng trong ngày đó Bernadette phải trình diện trước hai quyền bính dân sự và bị khảo cung. Ngày hôm ấy kết thúc trong một nỗi buồn lớn, vì ông bố của Bernadette cấm cô không được đến Hang Đá nữa.

Ngày 22 tháng 2 lúc 8 giờ 30 Bernadette cảm thấy bị lôi cuốn đi ra Hang Đá. Chị lần hạt trước sự hiện diện của nhiều người và cầu nguyện lâu giờ, nhưng chị đứng dậy và thú nhận là đã không trông thấy gì. Chị buồn sầu trở về nhà trong nước mắt. Chị giải thích với cha mẹ rằng: ”Đã có một hàng rào ngăn chặn đường đến Hang Đá, nhưng có một sức mạnh không thể cưỡng lại được đưa chị đến đó. Tưởng rằng mình đã làm phật lòng Bà, Bernadette tỳ vào cạnh giường khóc suốt buổi chiều hôm đó. Trước nỗi khổ đau chân thành sâu xa này của con, cha chị thôi cấm chị ra Hang Đá. Thế là tuy không hiện ra ngày hôm ấy, nhưng Đức Trinh Nữ rất thận trọng đã có được các hiệu qủa tuyệt vời: đó là sự khổ đau tinh tuyền của Bernadette khiến cho các lần hiện ra của Đức Mẹ được phong phú, cha của chị bỏ lệnh cấm chị, đồng thời nêu bật sự tôn trọng lệnh của cha mẹ.

Lần hiện ra thứ bẩy là vào ngày thứ ba 23 tháng 2. Mặc dù đã vỡ mộng ngày 22 tháng 2, ngay tù lúc 6 giờ sáng đã có 150-200 người đến Hang Đá. Nhiều người qùy cầu nguyện trong khi chờ đợi Bernadette. Có vài người đàn ông chưa tin vào thực tại các vụ hiện ra. Họ khám xét bên trong và chung quanh Hang Đá, nhưng thấy không có gì khả nghi. Trong số đó cũng có bác sĩ Dozous và ông Estrade, là chứng nhân trung thành và là sử gia của các biến cố Lộ Đức. Bernadette tới, có mẹ và hai bà dì Bernarde và Basile đi theo. Chị vào và xuất thần ngay từ các kinh Kính Mừng đầu tiên. Cuộc xuất thần kéo dài một gìơ. Để đề phòng cho Bernadette sẽ ngày càng gặp phải các mâu thuẫn của người này, và điều nguy hiểm hơn cho cô là sự tôn thờ của người khác, Đức Mẹ cho chị bước vào trong sự thân tình với Người. Ngày hôm đó Đức Mẹ cho chị biết ba bí mật. Sự thân tình ấy gắn bó chị với Đức Mẹ một cách chặt chẽ, tách rời chị khỏi các người khác và dậy chị trung thành với sứ mệnh của mình. Ba năm sau chị Bernadette đã có thể nói rằng: ”Bà đã cấm tôi không được nói các bí mật ấy cho ai, và tôi đã trung thành cho tới nay”. Chị đã trung thành cho tới cùng và đã mang theo các bí mật ấy vào cõi vĩnh hằng.

Lần thứ tám Đức Mẹ hiện ra với chị Bernadette là ngày thứ tư 24 tháng 2. Ông Estrade kể: ”Ít lâu sau khi xuất thần, thị nhân lắng nghe từ phía tảng đá, rồi như người nhận được một tin buồn mới, chị đã để rơi hai cánh tay và lệ tuôn rơi trên má. Trong một thái độ khiêm tốn chị đã qùy gối leo lên dốc trước hốc đá, và môi hôn đất ở mỗi bước”. Theo các chứng tá phải kết luận rằng ban đầu Bà đã hiện ra trên cây hồng như thường lệ, sau đó đã biến đi, và thị nhân đã tìm dưới vòm Hang Đá và đã tìm thấy Bà. Chính khi đó chị quay lại phía đám đông gồm 400-500 người. Mặt chị đẫm lệ. Tiếng nói nghẹn ngào trong tiếng nấc Bernadette chuyển sứ điệp của Bà cho đám đông: ”Sám hối, Sám hối, Sám hối”.

Lần hiện ra thứ chín là ngày thứ năm 25 tháng 2. Hôm đó Đức Mẹ Vô Nhiễm đã muốn Bernadette hạ mình thẳm sâu. Mẹ đã ra các lệnh xem ra không thể nào hiểu được và vô lý. Sự khiêm nhường và vâng lời này sẽ làm vọt lên điều mà người ta thích gọi là ”Suối Phép Lạ Lộ Đức”. Đám đông 400 người thấy Bernadette tiến tới trên đầu gối cho tới cuối Hang Đá, rồi xuống dốc, hướng về sông Gave, bất thình lình đứng lại trở vào Hang Đá và ở đó như đang lắng nghe một người nào đó mà chị không hiểu lệnh truyền. Sau đấy người ta thấy chị cào đất, uống một thứ nước đục chảy ra từ đó, rửa và cho đám đông thấy một gương mặt lem luốc bùn. Sau cùng người ta thấy chị ăn cỏ. Trong khi Bernadette trông thấy Bà mỉm cười, đám đông nghĩ rằng chị chỉ là một cô bé mất thăng bằng tâm trí, một người điên. Sau này chính chị Bernadette đã giải thích cảnh khiến cho mọi người đều vỡ mộng: ”Trong khi tôi cầu nguyện, Bà đã nói với tôi một cách thân hữu đồng thời nghiêm nghị. Hãy đi uống nước suối và rửa ở đó. Vì tôi không biết suối ở đâu nên tôi tin là không việc gì nên hướng về sông Gave. Bà đã gọi tôi và lấy ngón tay ra dấu cho tôi đến dưới Hang Đá: tôi đã vâng lời, nhưng tôi không trông thấy nước. Không biết lấy nước ở đâu tôi liền cào đất và đã có nước. Tôi đã để cho nó trong lại một chút rồi tôi uống và rửa mặt. Khi được hỏi tại sao lại ăn cỏ, Bernadette trả lời: ”Bà đã thôi thúc tôi bằng một chuyển động nội tâm”. Xem ra trong thị kiến kéo dài ba khắc này Bernadette đã không có sự hiển dung.

Chị Bernadette cũng cho biết ngày 22 và ngày 26 tháng 2 năm 1858 Đức Mẹ đã không hiện ra với chị. Hình như Đức Mẹ muốn lôi kéo sự chú ý của đám đông đối với suối nước sẽ trở thành chứng tá thường hằng việc hiện ra của Mẹ nơi đây, như dấu chỉ sự hiện diện trung gian ơn thánh của Mẹ. Và trong hai lần Đức Mẹ không hiện ra ấy, các giọt lệ mà chị Bernadette đã nhỏ ra trên đường từ Hang Đá về nhà chị sẽ khiến cho nước suối ấy trở nên phong phú.

Lần thứ 10 Đức Mẹ hiện ra là ngày thứ bẩy 27 tháng hai. Hôm đó đã có tới 800-900 người chờ đợi Bernadette. Chị đến Hang Đá vào khoảng 6 giờ rưỡi. Trong vòng 15 phút Bernadette lết trên đầu gối và hôn đất nhiều lần. Chị kể lại: ”Bà đã nói với tôi: Con hãy hôn đất để đền tội cho những người tội lỗi”. Và Đức Trinh Nữ Thánh còn nói thêm: ”Nếu điều đó không khiến cho con ghê tởm và mệt nhọc qúa”. Hai lần Bernadette ra hiệu cho đám đông cũng làm như chị. Lần thứ hai đám đông vâng lời. Từ ngày đó đất và hòn đá thánh tại Hang Đá Massabielle được phủ đầy các nụ hôn của dân chúng. Cũng trong ngày ấy Bà ban cho thị nhân sứ điệp này: ”Con hãy đi nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây”.

Lần thứ 11 Đức Mẹ hiện ra là ngày Chúa Nhật 28 tháng 2. Mặc dù mưa liên tục và trời lạnh kinh khủng, đã có một hai ngàn người hiện diện tại Hang Đá ngay từ sáng sớm. Bernadette tới Hang Đá lúc 7 giờ. Khi chị qùy xuống lần hạt và hôn đất, xem ra có một luồng gió mạnh thổi trên mọi người hiện diện. Tất cả đều qùy xuống hay cố gắng qùy xuống. Họ cầu nguyện và ai có thể làm được thì hôn đất với chị Bernadette. Đức Mẹ đã cho Bernadette biết vài điều thân tình, nhằm chuẩn bị và củng cố chị trước các khó khăn sắp tới, nhưng đã không có ai biết được là gì. Ngay trong ngày Chúa Nhật ấy, sau thánh lễ chính, Bernadette đã bị quan tòa Rives hỏi cung. Ông ta còn đe dọa nhốt tù chị.

Lần thứ 12 Đức Mẹ hiện ra là ngày thứ hai mùng 1 tháng 3. Lần đâu tiên cha của Bernadette đồng hành với con gái ra Hang Đá, nơi đã có 2.600 người đợi chị từ sáng sớm. Họ đã sung sướng sống 45 phút trong sự hiện diện của Đức Mẹ, mà vẻ đẹp phản ánh trên gương mặt của chị Bernadette. Hôm đó Đức Mẹ đã cho Bernadette và đám đông một bài học không thể nào quên được: đó là yêu thích tràng hạt Mân Côi, và luôn luôn đem tràng hạt trong mình, cho dù nó nghèo nàn thế nào đi nữa. Chị Bernadette đã dùng tràng hạt của một người khác nên Đức Mẹ hỏi chị: ”Tràng hạt của con đâu rồi?” Bernadette lấy tràng hạt của chị trong túi ra và giơ cho Đức Mẹ xem. Đức Mẹ mỉm cười bảo: ”Con hãy dùng tràng hạt ấy”.

Lần thứ 13 Đức Mẹ hiện ra với chị Bernadette là thứ ba mùng 2 tháng 3. Sáng hôm đó vào giờ như thường lệ Bernadette đã chỉ thấy Đức Mẹ một chốc lát.

Đã có khoảng 3.000 người hạnh phúc được chứng kiến. Đức Mẹ đã lập lại sứ điệp ngày 27 tháng 2: “Con hãy đi nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây”. Và lần này Đức Mẹ thêm: ”Mau chóng, cho dù nhỏ tí cũng được và đi rước kiệu đến đó”. Tuy đã hai ba lần bị cha sở tiếp đón rất tệ, trong cùng ngày hôm đó Bernadette đã có can đảm đến gặp cha sở hai lần, sáng và chiều. Chị đã làm công việc khó nhọc này vì chị yêu Đức Mẹ. Ai yêu có thể làm được mọi sự. Chị sẽ nói: Ai yêu thì làm mọi sự không mệt nhọc, hay yêu sự mệt nhọc ấy.

Lần thứ 14 Đức Mẹ hiện ra là ngày thứ tư mùng 3 tháng 3. Theo ông cảnh sát trưởng sáng hôm đó đã có 4.000 người đợi chị Bernadette. Chị đến Hang Đá vào lúc 6 giờ 45 phút. Bernadette cầu nguyện lâu giờ nhưng đứng lên mắt đẫm lệ và kêu lên: ”Bà đã không hiện ra với tôi”. Nhưng trong buổi sáng chị nghe thấy tiếng Đức Mẹ gọi trong nội tâm. Chị trở lại Hang Đá và lần này trông thấy Đức Mẹ. Đức Mẹ nói với chị: ”Con đã không thấy Ta sáng nay, bởi vì có nhiều người đến đây chỉ để xem điệu bộ của con trước sự hiện diện của Ta và họ không xứng đáng với điều này; bởi vì khi ngủ đêm tại Hang Đá họ đã làm nhơ nhuốc nó”. Nỗi khổ mà Bernadette cảm thấy đã như là một việc đền tội. Và Bernadette đi nói với cha sở: ”Bà đã mỉm cười khi con nói cha xin một phép lạ. Khi con xin Bà cho cây hồng nở hoa, bà lại mỉm cười, nhưng Bà muốn có một nhà nguyện”.

Lần thứ 15 Đức Mẹ hiện ra là ngày thứ năm mùng 4 tháng 3. Sau thánh lễ Bernadette xuống Hang Đá sau 7 giờ một chút. Đã có 20.000 người chứng kiến cuộc xuất thần kéo dài một giờ và bắt đầu sau kinh Kính Mừng thứ ba của chục thứ hai. Đức Mẹ hiện ra phía hốc đá bên phải. Bernadette mỉm cười rồi lại khóc, thay đổi nhau. Rồi chị phải leo lên dưới tảng đá nơi chị nói chuyện lâu với Đức Mẹ trong khi khóc. Khi thì Đức Mẹ vén mở cho chị biết các bí mật hạnh phúc của trời cao, lúc thì cho chị biết các bí mật đau buồn của thế giới tội lỗi. Nhưng cần phải có một vỡ mộng để cho các tâm hồn trưởng thảnh trong đức tin. Bà đã không nói tên mình, và cây hồng cũng đã không nở hoa trước đám đông, và Bà cũng đã không tỏ mình cho các tín hữu hành hương. Đã có hàng trăm, hàng ngàn người đến viếng Hang Đá trong các ngày sau đó, và như thế họ đã khai mào cuộc hành hương tới Lộ Đức.

Mọi người đều muốn biết tên của Bà đã hiện ra nơi đây, nơi đã xảy ra các phép lạ khỏi bệnh cả thể. Những người mù được sáng mắt, người tê liệt đi lại được, người đang hấp hối chỗi dậy...

Lần thứ 16 Đức Mẹ hiện ra là ngày thứ năm 25 tháng 3 lễ Truyền Tin. Hôm trước Bernadette đã nghe tiếng Đức Mẹ gọi. Ôi! Tiếng nói mới êm dịu làm sao! Đêm thánh Nhập thể sẽ là một đêm thánh đối với Bernadette, một đêm được ngắt quãng bởi các kinh Kính Mừng Maria. Ngay từ sáng tinh mơ khoảng sau 5 giờ Bernadette đã muốn chạy ra Hang Đá, nhưng một cơn suyễn khiến chị không chạy được. Thật Đức Trinh Nữ tốt biết bao! Trong khi đi xuống Hang Đá chị đã thấy hốc đá sáng lên. Đức Mẹ đợi chị. Thật không tin được! Bernadette chỉ trông thấy Mẹ Maria, chứ không trông thấy đám đông chen lấn nhau hai bên Hang Đá. Chị kể như sau: ”Khi tôi đến trước Bà, tôi đã xin lỗi Bà vì đã tới trễ như vậy. Luôn luôn tốt đối với tôi, Bà gật đầu ra dấu cho tôi không cần phải xin lỗi. Khi đó tôi nói với Bà tất cả sự trìu mến, kính trọng và hạnh phúc của tôi tìm lại được Bà. Sau khi đã nói tất cả những gì đến từ con tim, tôi bắt đầu cầm lấy tràng hạt. Trong khi tôi cầu nguyện ý tưởng hỏi tên Bà liên tục được áp đặt trên trí khôn khiến tôi quên hết mọi tư tưởng khác. Tôi sợ mình trở thành người quấy rầy, khi đưa ra một câu hỏi vẫn chưa được trả lời, tuy nhiên có điều gì đó bắt buộc tôi nói. Sau cùng bằng một cử động không kìm hãm được, các lời ấy buột khỏi miệng và tôi hỏi Bà: ”Thưa Bà, Bà có muốn có lòng tốt nói cho con biết Bà là ai không?”. Cũng như với những câu hỏi trước Bà cúi đầu mỉm cười nhưng không trả lời. Tôi không biết tại sao sáng hôm ấy tôi cảm thấy can đảm hơn, và tôi lại xin Bà ơn cho tôi biết tên của Bà. Bà lại mỉm cười và lập lại cử chỉ chào duyên dáng và tiếp tục im lặng. Khi đó lần thứ ba, hai tay chắp lại, tôi tuyên bố mình bất xứng với ơn mà tôi xin, tôi lại bắt đầu cầu nguyện. Bà đứng trên cây hồng. Khi tôi hỏi lần thứ ba Bà tỏ vẻ nghiêm trang và xem ra khiêm nhường. Rôi bà chắp tay đưa lên ngực và nhìn trời. Sau cùng bà bỏ tay xuống chậm rãi như trong hình mề đai phép lạ và nghiêng mình về phía tôi, bà nói giọng rất dịu dàng: ”Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai”.
Nhưng Mẹ Maria không bỏ đi mà không nói lên một lần nữa ước muốn lớn lao của Mẹ: ”Ta muốn một nhà nguyện nơi đây”. Nơi Mẹ Vô Nhiễm đã đến cần phải có một bàn thờ, nơi Chúa Giêsu Con Mẹ có thể ngự xuống, bởi Đức Trinh Nữ đã đến chỉ để ban Chúa Giêsu. Bernadette đã không hiểu kiểu nói ”Vô Nhiễm Thai” là gì, nhưng cha sở sẽ biết. Vì thế chị đến gặp cha sở ngay và liên tiếp lập lại các lời của Đức Mẹ. Chính như thế mà Đức Trinh Nữ đã tự tỏ lộ trước hết cho vị linh mục qua trung gian của Bernadette. Và tin vĩ đại chính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã viếng thăm trái đất lan ra khắp nơi, tại Lộ Đức, trong các làng lân cận, trong nước Pháp và trên toàn thế giới. Và ở khắp nơi có niềm vui như niềm vui của Cuộc Viếng Thăm.

Lần thứ 17 Đức Mẹ hiện ra là ngày thứ tư mùng 7 tháng 4. Bernadette đã vui mừng biết bao được thấy Đức Mẹ trở lại vào ngày thứ tư trong tuần Bát Nhật Phục Sinh. Bây giờ chị biết Mẹ là Mẹ Chúa Kitô phục sinh. Ngay chiều ngày mùng 6 tháng 4 Đức Mẹ đã gọi chị. Người ta chuyền tai nhau tin Bernadette xuống Hang Đá. Khi chị đến đó lúc 6 giờ sáng đã có 1.200 người đợi sẵn. Họ trông thấy sự say mê của chị trong ba khắc đồng hồ. Chính trong ngày đó bác sĩ Dozous đã có thể quan sát trong vòng 15 phút ”phép lạ cây nến”. Ngọn lửa của cây nến đã không gây ra vết cháy nào trên da thịt chị trong lúc chị xuất thần và tham dự vào sự vô cảm của một thân xác vinh hiển.

Lần thứ 18 Đức Mẹ hiện ra là ngày thứ sáu 16 tháng 7 năm 1858 ngày lễ Đức Mẹ Camêlô. Đức Trinh Nữ gọi Bernadette trong khi chị đang cầu nguyện trong nhà thờ giáo xứ vào ban chiều. Vì Hang Đá đã bị rào bởi lệnh của chính quyền, Bernadette cùng với dì Lucile và vài bạn gái đi đến bờ bên phải của sông Gave trong cánh đồng Ribère đối diện với Hang Đá. Tất cả qùy gối và cầu nguyện. Sau một lúc Bernadette kêu lên: ”Vâng, vâng, Mẹ đó! Mẹ mỉm cười với chúng ta và chào chúng ta bên trên hàng rào cản”.

Đức Trinh Nữ trong hốc đá được chiếu sáng mỉm cười nhìn Bernadette rất lâu, cúi đầu và biến mất, để lại cho con gái Mẹ một niềm an bình dịu dàng. Chị Bernadette nói Đức Mẹ đã hiện ra ở chỗ thường ngày và không nói gì với tôi cả... Chưa bao giờ tôi thấy Mẹ đẹp như vậy. Chị Bernadette đã trông thấy Mẹ trở lại một cách vĩnh viễn, khi chị qua đời ngày 16 tháng 4 năm 1879. Chúng ta cũng thế, một ngày kia chúng ta sẽ trông thấy Mẹ.

(Thánh Mẫu Học bài 3336, 337)
Linh Tiến Khải
Trở lại mục tổng hợp: Đức Mẹ Maria